......... .


Nguyên tác Bhikkh Khantipalo (1970)
Việt dịch Phạm Kim Khánh dịch (1994)

Phần mở đầu



Two knowable dhammas should be thoroughly known — mind and body; two knowable dhammas should be relinquished — unknowing and craving for existence; two knowable dhammas should be realized — wisdom and freedom; two knowable dhammas should be developed — calm and insight.
Eight are the bases of unknowing:
Non-comprehension in dukkha, noncomprehension in dukkha's arising, non-comprehension in dukkha's cessation, non-comprehension in the practice-path leading to dukkha's cessation, non-comprehension in the past, non-comprehension in the future, non-comprehension in past and future, non-comprehension in Dependent Arising.
Eight are the bases of knowledge:
Comprehension in dukkha, comprehension in dukkha's arising, comprehension in dukkha's cessation, comprehension in the practice-path leading to dukkha's cessation, comprehension in the past, comprehension in the future, comprehension in past and future, comprehension in Dependent Arising.
Peace it is and Excellence it is, that is to say — the stilling of all conditions, the rejection of all substrates (for rebirth), the destruction of craving, passionlessness, cessation, Nibbana.
O Bhikkhus, there is that sphere where is neither earth nor water nor fire nor air, nor the sphere of infinite space; nor the sphere of infinite consciousness, nor the sphere of no-thingness, nor the sphere of neither-perception-nor-non-perception; not this world, nor another world, neither the moon nor the sun.
That I say, O bhikkhus, is indeed neither coming nor going nor staying, nor passing-away and not arising. Unsupported, unmoving, devoid of object — that indeed is the end of dukkha.
And this dhamma is profound, hard to see, hard to awaken to, peaceful, excellent, beyond logic, subtle and to be experienced by the wise.
— Translated from the Royal Chanting Book (Suan Mon Chabub Luang) compiled by H.H., the 9th Sangharaja of Siam, Sa Pussadevo, and printed at Mahamakut Press, Bangkok).


Hai pháp có thể hiểu biết phải được thông suốt: danh và sắc; hai pháp có thể hiểu biết phải được tận diệt: vô minh và ái dục; hai pháp có thể hiểu biết phải được chứng ngộ: trí tuệ và giải thoát; hai pháp có thể hiểu biết phải được phát triển: vắng lặng và minh sát.
Nền tảng của vô minh có tám:
Không hiểu biết sự khổ; không hiểu biết sự phát sanh của khổ; không hiểu biết sự chấm dứt của khổ; không hiểu biết pháp hành dẫn đến sự chấm dứt khổ; không hiểu biết dĩ vãng; không hiểu biết vị lai; không hiểu biết dĩ vãng và vị lai; không hiểu biết pháp Tùy Thuộc Phát Sanh (Thập nhị Nhân Duyên).
Nền tảng của tuệ giác có tám:
Hiểu biết sự khổ; hiểu biết sự phát sanh của khổ; hiểu biết sự chấm dứt của khổ; hiểu biết pháp hành dẫn đến sự chấm dứt khổ; hiểu biết dĩ vãng; hiểu biết vị lai; hiểu biết dĩ vãng và vị lai; hiểu biết pháp Tùy Thuộc Phát Sanh (Thập nhị Nhân Duyên).
Thanh bình thay, tuyệt hảo thay, sự dập tắt mọi điều kiện, sự tách rời ra khỏi mọi nền tảng vật chất (để tái sanh), sự tận trừ ái dục, trạng thái không dục vọng, chấm dứt, Niết bàn.
Này chư Tỳ khưu, có cảnh giới ấy không đất, cũng không có gió, lửa, cũng không có vô biên xứ, không có thức vô biên xứ, không vô sở hữu xứ, cũng không có phi tưởng phi phi tưởng. Không thế gian này hay thế gian khác, không mặt trăng cũng không có mặt trời.
Cảnh giới ấy, này chư Tỳ khưu, Như Lai tuyên ngôn, quả thật không có đến, không có đi, không có ở, không viên tịch, không phát sanh, không gì nâng đỡ, không di chuyển, không đối tượng -- đó quả thật là chấm dứt đau khổ.
Và pháp này quả thật thâm diệu, khó thấy, khó lãnh hội, thanh bình, tuyệt hảo, ngoài phạm vi luận lý, tế nhị, và để cho bậc thiện trí chứng ngộ.
-- Bản dịch từ Tập Kinh Tụng Hoàng Gia (The Royal Chanting Book - Suatmon Chabub Luang), do Ngài Sa Pussadevo, Tăng Vương thứ 9 nước Thái Lan, sưu tập và được nhà xuất bản Mahamakut, Bangkok, ấn hành.



Upon the Full Moon of the month of Visakha, now more than two thousand five hundred years ago, the religious wanderer known as Gotama, formerly Prince Siddhattha and heir to the throne of the Sakiyan peoples, by his full insight into the Truth called Dhamma which is this mind and body, became the One Perfectly Enlightened by himself.
His Enlightenment or Awakening, called Sambodhi, abolished in himself unknowing and craving, destroyed greed, aversion and delusion in his heart, so that "vision arose, super-knowledge arose, wisdom arose, discovery arose, light arose — a total penetration into the mind and body, its origin, its cessation and the way to its cessation which was at the same time complete understanding of the "world," its origin, its cessation and the way to its cessation. He penetrated to the Truth underlying all existence. In meditative concentration throughout one night, but after years of striving, from being a seeker, He became "the One-who-Knows, the One-who-Sees."
When He came to explain His great discovery to others, He did so in various ways suited to the understanding of those who listened and suited to help relieve the problems with which they were burdened.
He knew with his Great Wisdom exactly what these were even if his listeners were not aware of them, and out of His Great Compassion taught Dhamma for those who wished to lay down their burdens. The burdens which men, indeed all beings, carry round with them are no different now from the Buddha-time. For then as now men were burdened with unknowing and craving. They did not know of the Four Noble Truths nor of Dependent Arising and they craved for fire and poison and were then as now, consumed by fears. Lord Buddha, One attained to the Secure has said:
"Profound, Ananda, is this Dependent Arising, and it appears profound. It is through not understanding, not penetrating this law that the world resembles a tangled skein of thread, a woven nest of birds, a thicket of bamboos and reeds, that man does not escape from (birth in) the lower realms of existence, from the states of woe and perdition, and suffers from the round of rebirth."
The not-understanding of Dependent Arising is the root of all sorrows experienced by all beings. It is also the most important of the formulations of Lord Buddha's Enlightenment. For a Buddhist it is therefore most necessary to see into the heart of this for oneself. This is done not be reading about it nor by becoming expert in scriptures, nor by speculations upon one's own and others' concepts but by seeing Dependent Arising in one's own life and by coming to grips with it through calm and insight in one's "own" mind and body.
"He who sees Dependent Arising, he sees Dhamma."
Let us now see how this Teaching is concerned with our own lives. The search of every living being is to find happiness, in whatever state, human or non-human, they find themselves. But what it is really important to know is this: the factors which give rise to unhappiness, so that they can be avoided; and the factors from which arise happiness, so that they can be cultivated. This is just another way of stating the Four Noble Truths. In the first half of this statement there is unhappiness or what is never satisfactory, called in Pali language, Dukkha.
This Dukkha is the first Noble Truth which we experience all the time, usually without noticing it, which does not make the dukkha any less! First, there is occasional dukkha: birth, old age, disease and death, for these events usually do not compose the whole of life. Then we have frequent dukkha: being united with what one dislikes, being separated from what one likes, not getting what one wants, and this is everyday experience. Finally, as a summary of all kinds of dukkha there is continuous dukkha: the five grasped-at groups, that is to say body, feeling, perceptions, volitions (and other mental activity) and consciousness, the components of a human being. Explanation of these in full would take too long here but all the readers are provided with these kinds of dukkha in themselves. They should look to see whether these facts of existence are delightful or not. This Dhamma "should be thoroughly known" in one's own person and life, that is where the first Noble Truth may be discovered.
Then the factors which give rise to unhappiness were mentioned. Here again one's person and life should be investigated. Now when living creature are killed intentionally by me, when I take what is not given, when I indulge in wrong conduct in sexual relations, when I speak false words and when I take intoxicating drinks and drugs producing carelessness — now are these things factors for happiness or unhappiness? When I covet the belongings of others, when I allow ill-will to dwell in my heart, and when I have as the tenants of my heart ignorance, delusion, and views which lead astray — is this for my welfare or destruction? There are many ways of describing these factors which make for unhappiness but all of them derive from unknowing and craving which are just two sides of the same thing. This is the Second Noble Truth of the Arising of Dukkha. When craving is at work, when unknowing clouds one's understanding, then one is sure to experience dukkha. Lord Buddha instructs us for our own benefit and for the happiness of others, that this craving "should be relinquished."
Now happiness in the second half of the statement above can be of many kinds. Two kinds dependent upon conditions can be seen illustrated by the world, while one kind, unsupported by conditions "should be realized" in one's own heart. We are all looking for happiness so let us see what is needed for it. First, there is materially produced happiness. This is born of possessions and jugglery with conditions of life "out there." Called amisa-sukha in Pali, this happiness is most uncertain; for all the factors supporting it are subject to instability and change. Moreover, they are out in the world and not in one's own heart, so that they call for expert jugglery to save one from dukkha. And failure and disappointment cannot be avoided if one goes after this sort of happiness. So this sort of happiness is short-lived and precarious. A great improvement on this is the happiness which comes from practicing Dhamma, called non-material happiness or niramisa-sukha. This kind of happiness is made sure whenever a person performs wholesome kamma, such as doing the following ten things: giving, moral conduct mind-development, reverence, helpfulness, dedicating meritorious acts to others, rejoicing in the meritorious acts of others, hearkening to Dhamma, teaching Dhamma and setting upright one's views. People who practice this Dhamma, purifying their hearts in this way, are sure to reap happiness. But this happiness, though more lasting than the first, is not to be relied upon forever. As a fruit of it one may dwell among the gods for aeons, or be born as a very fortunate man but even the gods have to pass away, let alone man. And the fruits of kamma, good or evil, are impermanent, so it cannot be relied upon to produce a permanent happiness. This can only be found by removing entirely the cause for dukkha: when craving is uprooted no growth of dukkha can take place. On the contrary, with purity, compassion and wisdom one has reached the Supreme Happiness of Nibbana which is stable, indestructible and never subject to changing conditions. This is the Third Noble Truth of the Cessation of Dukkha by the removal of its cause. A good deal of hard work is needed to get to this "which should be realized," and that work must be done along the right lines, hence the Fourth Noble Truth.
This is called the Truth of the Path, "which should be cultivated." It comprises elements of wisdom: Right View and Right Attitude; elements of moral conduct: Right Speech, Right Action, and Right Livelihood; and elements of meditation: Right Effort, Right Mindfulness and Right Collectedness. These will not be explained in detail here.1 It is certain that any one who practices Moral Conduct, Collectedness and Wisdom in his life has the conditions which sustain happiness. From his practice he may have Dhamma-happiness or the Supreme Happiness, according to the degree he practices, for the latter requires well-developed meditation both in calm and in insight.
These Four Noble Truths — Dukkha, Cause, Cessation, and Path — are the heart of the Dhamma and they are in the heart of every man who cares to see them. From their seeing and understanding comes happiness but by trying to escape them only more misery is born.
These Truths are illustrated by the formula of Dependent Arising which is found elaborated in various ways. The simplest form is:
Craving being, dukkha is; by the arising of craving, dukkha arises; craving not being, dukkha is not; by the cessation of craving, dukkha ceases.
But Dependent Arising can be given in much more detailed ways than this. The important principle to understand is that whatever is experienced by us, all that arises due to many conditions. An aspect which grows in size from birth throughout youth, which develops certain characteristics in maturity, and as old age creeps on becomes infirm in various ways, and finally dies. The processes which govern this growth and decline are of great complexity and interdependence. The body, to keep going at all, needs clothes, food, shelter and medicines at least. But once the internal chemistry (also dependently originated) starts the process leading to old age and death, none of the exterior supporting conditions can do more than retard the process for a little while. The body, as a whole, does not arise from "no-cause" (the physical particles and kamma being its immediate causes); nor is it derived from one cause. If examined, nothing which we experience arises from only one, or no cause at all; on the contrary our experiences all arises dependently. Sight is actually dependent on the eye as base, the object to be seen, and the operation of eye-consciousness. (There are other factors that also contribute: light, air,...) Similarly, there is ear, sound, ear-consciousness; nose, smell, nose-consciousness; tongue, taste, tongue-consciousness; body, touch, body-consciousness; and mind, thoughts, mind-consciousness. All of our experience falls within these eighteen elements and there is nothing which we know outside them.
It is also important to understand that much of what one experiences arising dependently is the fruit of one's own actions. The happiness one feels and the dukkha one feels, although sometimes brought about by events in the physical world (landslides, earthquakes, a sunny or a rainy day), is very often brought about by one's own past intentional actions or kamma. And in the present time with each deliberate action, one performs more kammas which will come to fruit as experience in the future. So, if one wants to experience the fruits of happiness, the seeds of happiness must be planted now. They may fruit immediately, in this life, or in a future existence. We make ourselves, we are the creators of ourselves, no one else has a hand in this creation. And the Lord of Creation is no other than Ignorance or Unknowing. He is the Creator of this Wheel of Samsara, of continued and infinitely varied forms of dukkha. And this Lord resides in the hearts of all men who are called "ordinary-men." We shall return to this in more detail later.


Hơn hai ngàn năm trăm năm về trước, trong ngày trăng tròn tháng Visàkha, có một đạo sĩ du phương tên Gotama (Cồ Đàm), vốn là Hoàng Tử Siddhattha (Sĩ Đạt Ta), đông cung thái tử của triều đại Sakỳa (Thích Ca), đã tự mình chứng ngộ và trở nên Toàn Giác do công phu minh sát trọn vẹn và đầy đủ Chân Lý gọi là Pháp (Dharmma), tức danh, phần tâm linh, và sắc, cơ thể vật chất này.
Sự giác ngộ, hay thức tỉnh của Ngài, gọi là Chánh Biến Tri, đã tiêu trừ vô minh và ái dục, đã dập tắt tham ái, sân hận, si mê, trong tâm, và làm cho "nhãn kích phát sanh, tri kiến siêu phàm phát sanh, trí tuệ phát sanh, sự khám phá phát sanh, ánh sáng phát sanh". Một công trình minh sát trọn vẹn và thấu đáo đi sâu vào danh và sắc, nguồn gốc của danh-sắc, sự chấm dứt danh-sắc, và con đường dẫn đến sự chấm dứt danh-sắc ấy. Và đó là thông suốt trọn vẹn và thấu đáo thế gian, sự chấm dứt thế gian, và con đường dẫn đến sự chấm dứt thế gian. Sau bao nhiêu năm trường kiên trì cố gắng và trong suốt đêm chú tâm minh sát, từ một người đi tìm chân lý Ngài trở thành "Người Hiểu Biết", "Người Chứng Ngộ".
Về sau, khi có cơ hội giải thích sự khám phá vĩ đại ấy, Ngài trình bày bằng nhiều phương cách khác nhau để cho mỗi người nghe đều có thể lãnh hội. Và như thế, để giúp cho mỗi người, tùy căn cơ và trình độ hiểu biết của mình, có thể đặt nhẹ gánh xuống bên đường. Với trí tuệ siêu phàm Ngài thông suốt tận tường những gánh nặng ấy là gì, mặc dầu lắm khi chính người mang gánh nặng trên vai lại không hiểu biết gì về gánh nặng ấy, với tâm bi mẫn vô lượng, Ngài truyền dạy Giáo Pháp cho những ai muốn bỏ gánh nặng xuống. Những gánh nặng mà con người – đúng ra là tất cả chúng sanh – phải khuân vác quanh quẩn theo mình ngày nay không có gì khác biệt với những gánh nặng của người ở vào thời của Đức Phật. Bởi vì trong hiện tại cũng như vào lúc thời bấy giờ, con người vẫn bị ái dục và vô minh đè nặng trĩu trên vai. Con người không thấu đạt Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên, con người bám bíu, đeo níu theo núi lửa và thuốc độc của ngày nay cũng như thuở nào, và con người bị lo âu sợ sệt làm tiêu mòn, sụp đổ. Đức Thế Tôn, người đã thành đạt mức châu toàn, dạy rằng:
"Thâm diệu thay, này Ànanda, pháp Thập Nhị Nhân Duyên, pháp này quả thật thâm diệu. Vì không thông suốt và thấu triệt Định Luật này, thế gian tựa hồ như một cuộn chỉ rối, một ổ chim, một bụi tre rậm, một đám lát, vì không thông suốt và thấu triệt Định Luật này, con người không thoát khỏi đời sống ở những cảnh giới thấp hèn, không thoát khỏi trạng thái đau khổ và tuyệt vọng, và mãi mãi khổ đau trong vòng luân hồi."
Tình trạng không thông suốt định luật Tùy Thuộc Phát Sanh (Thập Nhị Nhân Duyên) là nguyên nhân của mọi phiền não mà tất cả chúng sanh phải chịu. Đó là công thức quan trọng nhất mà sự giác ngộ của Đức Phật đã trình bày một cách chính xác. Vậy đối với người Phật tử, là phải nhìn thẳng vào trung tâm của pháp này. Đây là việc làm tối quan trọng, tối cần thiết. Và nhìn vào, không phải bằng cách đọc sách, đọc kinh, hay bằng cách trở thành một chuyên viên nghiên cứu về Tam Tạng, và cũng không phải bằng cách tranh luận giữa quan niệm của mình và kẻ khác, mà phải là quan sát và thấy rõ sự Tùy-Thuộc-Phát-Sanh trong đời sống của chính mình, phải bám sát vào pháp gom tâm vắng lặng và minh sát trong "danh" và "sắc" của chính mình.
"Người nào mà thấy pháp Tùy Thuộc Phát Sanh, là người ấy thấy Giáo Pháp."
Bây giờ, hãy nhìn xem giáo huấn này liên quan đến đời sống của chúng ta như thế nào? Dầu ở trong trạng thái hay cảnh giới nào -- người hay không phải người – tất cả chúng sanh đều mưu tìm hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng cần phải biết là: yếu tố nào đem lại đau khổ, để lẩn tránh, và yếu tố nào đem lại hạnh phúc, để cố gắng phát triển và trau giồi. Đó là lập lại Tứ Diệu Đế bằng một lối khác. Đoạn đầu của câu trên đề cập đến đau khổ, cái gì không bao giờ toại nguyện, mà trong tiếng Phạn gọi là dukkha.
Dukkha (khổ) này là Chân Lý Thâm Diệu (Diệu Đế) đầu tiên mà chúng ta kinh nghiệm một cách liên tục, từng giây từng phút, nhưng thường thì chúng ta không ghi nhận và không hay biết được. Và điều này – không ghi nhận và không hay biết – không làm cho dukkha suy giảm chút nào! Trước tiên, có những đau khổ phát sanh tùy cơ hội, như sanh, bệnh, lão, tử, vì những diễn biến này không bao gồm trọn vẹn đời sống. Kế đó có những đau khổ thường xuyên, như phải kết hợp với người mà ta không ưa thích, xa lìa người hay vật hay hoàn cảnh mà ta ưa thích, không thành đạt những gì mong muốn. Và đó là những việc thường xảy ra hằng ngày. Cuối cùng, để tóm lược, có sự đau khổ liên tục, bao hàm tất cả các loại đau khổ (dukkha): đó là ngũ uẩn thủ, tức chấp thủ vào năm nhóm: cơ thể vật chất (sắc), cảm giác (thọ), tri giác (tưởng), sanh hoạt của tâm (hành) và thức. Đó là năm yếu tố cấu thành chúng sanh. Nếu phải giải thích đầy đủ ở đây sợ e quá dài, tuy nhiên, mỗi người đọc đều có thể được cung ứng dồi dào các loại đau khổ ấy trong chính bản thân mình. Mỗi người phải tự chính mình, nhìn và quan sát, nhận thức xem những gì mình đã kinh nghiệm trong đời sống có đáng được thỏa thích hay không. Pháp này phải được "thông suốt trọn vẹn" trong chính bản thân và trong chính đời sống của mình, nơi mà Diệu Đế đầu tiên phải được khám phá.
Kế đó là những yếu tố đem lại sự bất toại nguyện, đau khổ, tức không-hạnh phúc. Nơi đây cũng vậy, con người và đời sống phải được quan sát thận trọng. Khi có những chúng sanh bị tôi sát hại, khi tôi lấy một vật gì chưa được cho, khi tôi có hành động tà dâm, khi tôi nói lời giả dối, khi tôi dùng những chất độc làm cho tâm trở thành dễ duôi, bất cẩn, phóng dật – đó là những yếu tố đem lại hạnh phúc hay bất toại nguyện? Khi tôi đem lòng tham muốn vật sở hữu của kẻ khác, khi tôi để tâm chứa chấp những ý tưởng oán ghét, hận thù, khi vô minh, tà kiến, và những quan kiến sai lầm khác làm chủ tâm tôi – đó là những yếu tố đem lại an lành hay hoại diệt cho tôi? Có rất nhiều phương cách để diễn tả các yếu tố tai hại ấy, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ vô minh và ái dục. Và vô minh và ái dục cũng chỉ là hai khía cạnh của mỗi một việc. Đó là Diệu Đế thứ nhì, đề cập đến nguồn gốc hay sự Phát Sanh của dukkha, đau khổ, bất toại nguyện. Khi ái dục hoạt động, khi vô minh bao trùm sự hiểu biết của ta như đám mây mờ, lúc ấy chắc chắn chúng ta đang kinh nghiệm đau khổ. Vì lợi ích cho ta và cho kẻ khác, lời giáo huấn của Đấng Từ Phụ là ái dục ấy "phải được diệt tận".
Phần nhì của câu được nêu trên đề cập đến hạnh phúc. Có nhiều loại hạnh phúc. Hai loại tùy thuộc điều kiện, được chứng nghiệm đó đây trong thế gian và loại thứ ba, không tùy thuộc điều kiện, không do điều kiện nào nâng đỡ hay hỗ trợ, "phải được chứng ngộ". Tất cả chúng ta đều mưu tìm hạnh phúc. Vậy, hãy tìm xem ta phải cần những gì? Đầu tiên, có loại hạnh phúc do vật chất tạo nên, phát sanh từ quyền sở hữu và việc khéo xử dụng thủ đoạn với những điều kiện của cuộc sống "ngoài đời". Loại hạnh phúc này, được gọi là àmisa sukha, quả thật bấp bênh, không có gì chắc chắn vững bền, bởi vì tất cả những yếu tố nâng đỡ, hỗ trợ nó đều tạm bợ và biến đổi không ngừng. Lại nữa, nó nằm ở nơi thế tục, ở ngoại cảnh, chớ không phải ở trong tâm ta và như vậy, cần phải có tài năng tinh xảo kỳ diệu mới cứu ta thoát khỏi dukkha, đau khổ. Và chúng ta không thể tránh khỏi những thất bại, thất vọng, bất mãn, nếu cứ mãi mãi chạy theo loại hạnh phúc vật chất ấy. Đó là loại hạnh phúc ngắn ngủi, nhất thời. Trên một tầng lớp cao thượng hơn nhiều là hạnh phúc đến với ta bằng cách thực hành Giáo Pháp, được gọi là hạnh phúc phi-vật-chất hay niràmisa-sukha, hạnh phúc tinh thần đạo đức. Hạnh phúc này phát sanh đến người tạo đầy đủ mười thiện pháp là: bố thí, trì giới, hành thiền, tôn kính bậc trưởng thượng, tạo công đức phục vụ, hồi hướng phước báo đến người khác, nghe Giáo Pháp, dạy Giáo Pháp, và củng cố quan kiến theo chánh pháp. Người thực hành Giáo Pháp này, thanh lọc tâm như vậy, chắc chắn sẽ gặt hái hạnh phúc. Tuy nhiên, ta không thể mãi mãi ỷ lại vào loại hạnh phúc này mặc dầu nó vững bền và cao thượng hơn loại trước nhiều. Do quả báo của nó ta có thể hưởng một kiếp sống thật lâu dài, nhàn nhã, giữa những vị Trời, hay sanh làm người có thật nhiều may mắn. Nhưng, dầu ở cảnh Trời, dầu có được tuổi thọ thật dài đi nữa, rồi cũng phải mạng chung, khỏi cần đề cập đến cảnh người. Vả lại, những hậu quả của nghiệp, dầu tốt hay xấu, đều là vô thường, nghĩa là luôn luôn biến đổi.
Như vậy ta không thể ỷ lại vào những quả ấy để mưu tìm hạnh phúc thường còn, không biến đổi. Muốn có hạnh phúc trường cửu phải tận diệt trọn vẹn nguồn gốc của dukkha, đau khổ. Khi ái dục đã bị tiêu trừ tận căn cội, đau khổ không còn phát sanh được nữa. Trái lại, nhờ trong sạch, từ bi và trí tuệ, ta đạt đến hạnh phúc tối thượng của Niết Bàn, bền vững, không thể hoại diệt, không thể biến đổi. Đó là Diệu Đế thứ ba, sự chấm dứt đau khổ, bằng cách diệt trừ nguồn gốc của nó. Để thành đạt cái "cần phải được chứng ngộ" ấy có nhiều việc phải làm, và những việc phải làm ấy phải theo một đường lối chân chánh, do đó, Diệu Đế thứ tư, Đạo Đế. Đế này được gọi là Chân Lý của Con Đường, và Con Đường này "phải được phát triển".
Con Đường gồm những thành phần của trí tuệ: chánh kiến, chánh tư duy; những thành phần của giới đức: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; và những thành phần của pháp hành thiền định: chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Nơi đây sẽ không giải thích những thành phần này. Người thực hành Giới, Định, Tuệ chắc chắn sẽ có những điều kiện để duy trì hạnh phúc. Nhờ thực hành như vậy hành giả có thể đạt đến hạnh phúc tinh thần đạo đức gọi là hạnh phúc của Giáo Pháp, hoặc hạnh phúc Tối Thượng, tùy theo mức độ tiến triển. Muốn thành đạt hạnh phúc Niết Bàn cần phải gia công cố gắng thật nhiều để phát triển cả hai lối thiền, thiền vắng lặng (samatha) và thiền minh sát (vipassanà).
Tứ Diệu Đế, hay bốn Chân Lý Thâm Diệu ấy – khổ, nguyên nhân sanh khổ, diệt khổ, và con đường diệt khổ - là trung tâm của Giáo Pháp, phải nằm trong lòng của mỗi ai muốn nhận thấy. Do nhận thấy và hiểu biết thấu đáo Tứ Diệu Đế, hạnh phúc sẽ đến, nhưng cố tìm cách lẩn tránh thì đau khổ sẽ phát sanh.
Bốn Chân Lý ấy, trình bày trong công thức "Tùy Thuộc Phát Sanh", đã được giải thích bằng nhiều phương cách. Hình thức giản dị nhất là:
"Có ái dục tức có đau khổ. Do sự phát sanh của ái dục, đau khổ phát sanh.
Không có ái dục tức không có đau khổ. Do sự chấm dứt ái dục, đau khổ chấm dứt."
Tuy nhiên, có thể giải thích dông dài và đầy đủ hơn. Nguyên tắc quan trọng để thấu hiểu rõ ràng pháp Thập Nhị Nhân Duyên, hay Phát Sanh Tùy Thuộc, là nhận định rằng tất cả những gì mà ta chứng nghiệm đều do điều kiện phát sanh (duyên sanh). Hãy lấy thân này làm thí dụ. Từ lúc mới lọt lòng mẹ là một trẻ sơ sinh, rồi dần dần lớn lên, phát triển dần những đặc tánh để trở nên thuần thục cho đến khi bị tuổi già bám vào, làm cho cơ thể tàn phế, cách này hay cách khác, và cuối cùng, chết. Tiến trình điều hành sự trưởng thành và tàn lụi thật vô cùng phức tạp và tương quan chằng chịt với nhau. Muốn giữ thân được trọn vẹn, tối thiểu cần phải có y phục, thức ăn, chỗ ở và thuốc men. Nhưng một khi những phản ứng hóa học bên trong (cũng phải tùy thuộc phát sanh) bắt đầu tiến trình, dẫn đến tuổi già và hoại diệt, không có điều kiện hỗ trợ nào từ bên ngoài có thể giúp gì hơn là làm cho tiến trình ấy chậm trễ đôi chút. Cơ thể vật chất này, xem như một đơn vị, không thể phát sanh từ không-nguyên-nhân (những tinh trùng vật chất là nguyên nhân trực tiếp), cũng không thể phát sanh từ một nguyên nhân duy nhất. Quan sát tỉ mỉ và tận tường, không có gì ta chứng nghiệm mà phát sanh từ một nguyên nhân duy nhất hay không nguyên nhân. Trái lại, những gì ta thọ cảm đều chằng chịt tùy thuộc lẫn nhau. Như sự thấy của ta chẳng hạn, phải tùy thuộc ở nhãn căn, tức mắt, nhãn trần, tức vật để thấy, đối tượng của sự thấy và hoạt động của nhãn thức, (ngoài ra còn có những yếu tố khác góp phần vào như ánh sáng, không khí v.v…). Tương tự như sự thấy ấy, tai, âm thanh, nhĩ thức; mũi, mùi và tỉ thức; lưỡi, vị và thiệt thức; thân, xúc và thân thức; và tâm hay ý, tư tưởng, hay pháp, và ý thức. Tất cả những gì ta thọ cảm đều nằm trong mười tám nguyên tố (hay giới) ấy, và ngoài các nguyên tố ấy ta không còn biết gì khác.
Điều quan trọng cần nên nhận thức là phần lớn những gì ta thọ cảm đều phát sanh tùy thuộc lẫn nhau và đều là hậu quả của hành động nào chính ta đã làm trong quá khứ. Hạnh phúc mà ta hưởng hay đau khổ mà ta chịu, mặc dầu đến với ta do những diễn biến của thế gian vật chất bên ngoài (như động đất, bão, lụt, trời mưa, trời nắng v.v…) vẫn thường phát sanh do những hành động có tác ý (nghiệp) của ta trong quá khứ. Và trong hiện tại, với mỗi hành động có ý thức, ta đang tạo nghiệp mới. Nghiệp này sẽ phối hợp với nghiệp sẵn có để đem lại quả mà ta sẽ gặt hái trong tương lai. Như vậy, muốn thọ cảm hạnh phúc, muốn gặt hái quả ngọt, ta phải gieo trồng từ bây giờ những hột giống tốt. Cây có thể cho trái tức khắc, trong kiếp sống hiện tại, hay trong một kiếp sống tương lai. Ta làm ra ta. Ta là người tạo ra ta, không có bàn tay nào của ai khác. Và đấng Thần Linh Tạo Hóa không phải ai khác hơn là Vô Minh, hay sự không hiểu biết. Vô Minh là đấng Tạo Hóa đã tạo nên bánh xe luân hồi và những hình thức liên tục và khác nhau vô cùng tận của sự đau khổ. Đấng Tạo Hóa ấy ngự trong tâm của tất cả những ai còn được gọi là "phàm nhân", những chúng sanh trong tam giới (Dục, Sắc và Vô Sắc Giới). Chúng ta sẽ trở lại vấn đề với nhiều chi tiết hơn. [^]


Ghi chú:

(9) ^^^^^


01 | 02 | 03 | | 04 || 05 || 06 | | Ðầu trang

Trang trước    Trang kế 

--- o0o ---

Trình bày: Minh Hạnh & Thiện Pháp

Cập nhật ngày: 03-03-2006


--- o0o ---

y' kiến đóng góp xin gửi đến TT Giác Đẳng qua địa chỉ:

Cập nhật ngày: 03-03-2006