Trung Bộ Kinh do Ngài Bodhi giảng

TT Giác Đẳng chuyển ngữ ngày 12 tháng 01 năm 2006

Minh Hạnh chuyển biên

 

TT Giác Đẳng: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.  Bài giảng của Ngài Bodhi ở trong lớp Trung Bộ Kinh tại tu viện Bodhi Manastery thông thường kéo dài hai tiếng, vi` vậy tất cả những bài học khi được chuyển ngữ trong rơom Diệu Pháp chúng ta đều phải chia làm đôi cho hợp với thời lượng trong rơom Diệu Pháp này.  Tuần rồi đã có phần đầu của bài giới thiệu về Trung Bộ Kinh, nói về việc hệ thống hoá Tam Tạng kinh điển và sự gi`n giữ Tam Tạng kinh điển bằng cách truyền khẩu. 

 

Trong ngày hôm nay Ngài Bodhi đặc biệt nói về bối cảnh của xã hội Ấn thời Đức Phật Ngài ra đời.  Với một số Phật tử đặc biệt những vị không quen kinh điển hay mới vào chùa, hay mới đọc những bản Tam Tạng, đôi lúc chúng ta hơi ngờ ngợ với những gi` liên quan đến xã hội, phong tục tập quán thời Đức Phật co`n tại thế ở tại Ấn Độ, nói đúng ra là miền Trung Ấn chung quanh châu thổ sông Hằng. Ngày hôm nay chúng ta sẽ nghe bài nói chuyện của Ngài, trước khi đi vào bài chúng tôi cũng xin nhắc qúi vị một điểm là về cách phát âm Phạn ngữ ở trong bài học qúi vị nghe Bodhi phát âm theo Tích Lan có khác hơn cách phát âm Pali của Phật giáo Việt Nam tại Việt Nam mà chúng ta thường nghe, cách phát âm tại Việt Nam thường theo cách của người Miên và người Thái. 

 

Trong tiếng Pali thi` có tất cả là 8 nguyên âm,  đúng ra là 5 âm dài và 3 âm ngắn mà chúng ta thường đọc là á, a, qúi vị  đọc chữ a  có dấu huyền ở trên, đúng ra trong Pali Text Society không viết chữ a như vậy, họ viết chữ a có gạch ngang ở trên, chữ gạch ngang ở trên không giống như chữ huyền của chúng ta, nó là trường âm, à á a i'  i ú u a và  o đó là 8 âm.  Trong 8 âm này có ba âm là á i' ú là ba âm ngắn gọi là đoản âm, người Ấn Độ cũng như người Tích Lan  ngôn ngữ khác với chữ Thái và chữ Việt Nam của chúng ta, chữ Thái và chữ Việt Nam gọi là monolanguages……và chúng ta nói theo bi`nh thường cho dễ hiểu là đơn âm. 

 

Đơn âm ví dụ như chúng ta nói “tôi đi chợ” thi` chúng ta nói theo sắc huyền hỏi ngã nặng, mà chúng ta không có luật về ngắn và dài, rất ít khi chúng ta nói về ngắn về dài, do vậy ở trong trường hợp qúi vị nghe cách phát âm như vậy; chúng ta có hai âm, âm a ở đầu và âm á ở cuối thi` âm a và âm á ở cuối thi` thường chúng ta đọc giống nhau, do đó người Thái và nhất là người Việt Nam của chúng ta ảnh hưởng người Miên người Thái thi` chúng ta phát âm tên của vị thị giả của Đức Phật thường chúng ta đọc là Anandá, chữ đá ở cuối chót thi` chúng ta thêm vào dấu sắc hay là dấu ă như dấu mũ dấu ă của chúng ta, nhưng người Tích Lan không đọc như vậy mà họ đọc là Ananda, quí vị nghe Ananda thi` chữ a họ đọc âm dài mà tiếng da ở chót họ đọc ngắn nên chi người Tích Lan họ nghe chư tăng Việt Nam hay Phật tử Việt Nam đọc Anandá họ nghe rất ky`, hay  Đức Phật có người em tên là Nanda thi` Nan đọc dài tại vi` nó có vần ngược ở phía sau, chữ đa đọc ngắn, họ đọc là Nanda, co`n chúng ta đọc Nandá nghe rất lạ bởi vi` chúng ta thêm vào dấu sắc, do vậy khi Ngài Bodhi phát âm qúi vị lưu y’ là trong cách phát âm của người Ấn Độ giống như người Anh bây giờ học tiếng Pali, người ta phát âm ngắn và âm dài, chứ âm ngắn người ta không thêm vào đó dấu sắc, co`n chúng ta phát âm theo kiểu đơn âm là chúng ta không nói được âm dài và không phân biệt được âm dài ngắn do đó thế vào âm ngắn bằng dấu sắc như á hay í, ú .  Có một vài Phật tử hỏi chúng tôi nó khác biệt như thế nào thi` chúng tôi xin lưu y’ về cách phát âm phạn ngữ là như vậy.  Thật ra thi` cách phát biệt âm ngắn âm dài, âm nhấn và không có nhấn ví dụ như có những âm chữ năn ở đây họ đọc nặng hơn một chút, nó không có ráp vần ngược, vi` ở đây ráp vần ngược và những âm không ráp vần ngược cũng có âm ráp vần ngược họ không nhấn do đó chúng tôi chỉ lưu y’ ở đây một điểm là âm ngắn chúng ta thường thêm vào dấu ă hay dấu sắc, người Tích Lan họ không đọc như vậy thí dụ Namo tassa bhagavato arahato sammà sambuddhassa là kính lễ Đức Thế Tôn bậc A La Hán Đấng Chánh Biến Tri hay là kính lễ Đức Thế Tôn bậc Ứng Cúng và câu đó cũng là câu lễ Phật của tất cả chúng ta.

 

Phần chuyển ngữ của TT Giác Đẳng: Trong đoạn vừa rồi Ngài Bodhi nói rằng lời dậy của Đức Phật là những lời dậy mang giá trị vượt thời gian, ở thời nào, hoàn cảnh nào, quốc độ nào, không gian nào thi` những lời dậy đó vẫn có nhiều giá trị cho  chúng ta biết rất nhiều điều quan trọng về kinh điển.

 

 Cho dù người ta có tranh luận về dị biệt thời điểm của Đức Phật ra đời nhưng tựu trung vẫn nằm ở trong hai thế kỷ. Chúng ta biết một điều vô cùng quan trọng là sự chuyển mi`nh của bối cảnh chính trị của xã hội Ấn vẫn tạo ra những nước Cộng Hoà nhỏ.  Vào lúc Đức Phật ra đời thi` đã bắt đầu có những khuynh hướng kết hợp thống nhất.

 

Đức Phật Thích Ca tuy rằng biệt lập ở trên phương diện chính trị hành chánh, nhưng vị thủ lãnh đứng đầu như vua Tịnh Phạn vẫn được xem như là người phải triều cống đối với vương quốc Kiều Tát La hay vương quốc Kosala.

 

Có hai vương quốc lớn thời bấy giờ ở tại Ấn Độ thời Đức Phật, vương quốc đầu tiên gọi là Magadha  tức là Ma Kiệt Đà với kinh đô đặt tại Ràjagàha, tại hai vương quốc này Đức Thế Tôn có hai ngôi chùa hết sức nổi tiếng.  Một ngôi chùa chúng ta được biết đến tại thành vương xá của vương quốc Ma Kiệt Đà đó là ngôi chùa Trúc Lâm hay là Veluvana.  Vương quốc thứ hai là vương quốc Kosala, vương quốc Kosala này có kinh đô là Savatthi, Savatthi âm là Xá Vệ, tại đó cũng có một ngôi chùa lừng danh của đạo Phật đó là ngôi chùa Ky` Viên.  Những vương quốc này vốn có một định luật giống nhau là luôn luôn muốn nới rộng biên cương của mi`nh, riêng gio`ng tộc của họ Thích Ca, tiểu quốc của gio`ng tộc Thích Ca là một tiểu quốc mà hàng năm phải gửi cống phẩm đến Kosala nằm trong qũi đạo của Kiều Tát La.  Và giữa Magadha và Kosala tức là giữa Ma Kiệt Đà và Kiều Tát La thỉnh thoảng có tranh chấp về biên giới, về thế này thế khác, nhưng chúng ta cũng được ghi nhận rằng thời Đức Thế Tôn còn tại thế thi` vua Bi`nh Sa Vương và vua Ba Tư Nặc là hai anh em cột chèo như chúng ta có dịp nói đến trong lịch sử Phật giáo, thi` hai vị đó tương đối là có một giao ti`nh rất tốt, chúng ta nên ghi nhận một điểm rằng hai vương quốc này, Ma Kiệt Đà và Kiều Tác La đóng một vai tro` hết sức quan trọng ở trong lịch sử của đạo Phật.

 

Vào thời Đức Phật còn tại thế, những năm tháng cuối cùng của Ngài thi` đã có cuộc chiến xô sát giữa hai vương quốc lớn của miền Trung Ấn lúc bấy giờ đó là Ma Kiệt Đà và Kiều Tát La tức là Magadha và Kosala, chúng ta biết lúc đó là vua A Xà Thế đã lên nắm quyền đó là cháu của vua Ba Tư Nặc nhưng hai cậu cháu có những va chạm nhau.  Một trăm năm sau, sau khi Đức Thế Tôn Ngài viên tịch thi` vương quốc Kosala (Kiều Tát La) yếu dần và đi vào thế bị tiêu diệt, trong lúc đó thi` vương quốc Ma Kiệt Đà với sự phát triển hùng cường của triều đại Mauryan từ vương quốc Ma Kiệt Đà đã thống trị toàn thể tạo ra một thế đứng lớn nhất chưa từng có ở trong lịch sử trước đây.  Chúng tôi xin lưu y' qúi vị một điểm là Ngài Bodhi khi giảng bài này ở trong lớp học, bên cạnh Ngài thi` có bản đồ của nước Ấn Độ giống như nhiều hay một con cá đuối thi` ở tận cùng phía bắc là Patmia… chung quanh lưu vực sông Hằng.  Chung quanh lưu vực sông Hằng là địa danh chúng ta đang nói đến thi` vương quốc Kosala nằm ở phía Đông Bắc và vương quốc Ma Kiệt Đà nằm ở phía Tây Nam.  Chúng tôi cũng xin chú thích vào là từ Magadha từ Vương Xá xuống Pataliputra ngày nay chúng ta gọi là Patna sự thay đổi như vậy đã là biến cố lớn trong lịch sử và Pataliputra đã chứng kiến rất nhiều sự thăng trầm và cái cao điểm đó là kinh đô của vương quốc Ấn Độ dưới sự thống trị của vua A Dục

 

Nói về kinh tế thi` chúng ta có thể nói rằng khi Đức Thế Tôn ra đời thi` đó là một thời đại cực ky` hưng thịnh của xã hội Ấn, ly' do chính của thời ky` hưng thịnh này là sự chuyển đổi từ nền kinh tế gọi là chăn nuôi du mục sang nền kinh tế nông nghiệp  định cư.  Ở trong thời ky` du mục thi` người ta sống phần lớn vào sự chăn nuôi và săn bắn, điều này nó có một giới hạn nhất định ở trên phương diện kinh tế, nhưng trước sự chuyển tiếp từ ngành chăn nuôi sang nông nghiệp thi` chúng ta biết rằng kinh tế của Ấn Độ thời Đức Phật đặt trên căn bản của mễ cốc tức là gạo và lúa mi` trồng trọt khắp nơi rất nhiều.  Tất nhiên nền kinh tế nông nghiệp mới này tạo nên một thứ đó là sự thặng dư có nghĩa là nhiều hơn nhu cầu ăn uống hằng ngày, và sự thặng dư này dẫn đến sự hi`nh thành những đô thị lớn.  Những đô thị lớn phát triển là do sự thặng dư về kinh tế và cùng lúc đó chúng ta cũng biết rằng người ta đã bắt đầu biết chế tác những sản phẩm kim khí bằng đồng, sắc v.v...và những sản phẩm kim loại này giúp không ít vào những việc phát triển đô thị, thi` như vậy nền kinh tế của Ấn Độ thời Đức Phật co`n trụ thế đó là một nền kinh tế mạnh, mạnh theo kiểu thời cổ đại có nghĩa là một nền kinh tế phồn thịnh về nông nghiệp và sự phồn thịnh này dẫn đến sự ra đời của rất nhiều đô thị lớn, thành phố lớn, và những thành phố rất nổi danh được ghi nhận ở trong kinh điển của đạo Phật.

 

Một khi đô thị phát triển thi` lúc bấy giờ có một nhu cầu đó là nhu cầu về sự lưu hành tiền tệ, người ta sử dụng tiền đồng và tiền kim loại để làm một phương tiện môi giới cho tất cả việc trao đổi, và khi tiền tệ được lưu hành thi` tự nhiên nó làm cho gia tăng sự giao thương giữa người này và người khác  sự giao thương của quốc gia này với quốc gia khác, và lúc bấy giờ chúng ta thấy xuất hiện những thành phố thương mại. Những đô thị kinh tế và những thành phố thương mại này đóng một vai tro` quan trọng ở trong việc phát triển quốc gia. Khi những thành phố thương mại này được hi`nh thành thi` thưa qúi vị ở bên cạnh đó nó tạo nên một sự giao lưu mới, tức là những con đường buôn bán.  Những trục lộ giao thương này ở bất cứ cơ chế xã hội nào và nói một cách ngắn gọn thi` chính sự ra đời của đô thị dẫn đến sự lưu hành tiền tệ, và sự lưu hành tiền tệ dẫn đến sự gia tăng về giao thương, nó mọc lên những thành phố thương mại, và sự có mặt hi`nh thành của những thành phố thương mại nó tạo nên những trục lộ giao thương giữa quốc gia này với quốc gia khác, những biên giới được mở rộng ra.

 

Tạo nên một sự chuyển hoá lớn về phương diện nhân văn về phương diện xã hội thời bấy giờ, đó là sự việc kinh tế phát triển và do yếu tố phát triển đó đã tạo nên một lợi thế mới cho một tầng lớp tại thành thị ,đó là tầng lớp của những doanh gia tức là của những thương gia buôn bán.  Những thương gia này hoặc lớn hoặc nhỏ, một số người cực ky` giàu có họ thường liên minh với các vua chúa và họ có tiền để đeo đuổi những đề án về xã hội về tôn giáo của riêng họ.  Những thương gia này cũng cung ứng tiền bạc và kỹ thuật để tân trang quân đội, để chế tạo vũ khí.  Nói tóm lại là trong lát nữa chúng ta sẽ nghe về bốn giai cấp trong xã hội Ấn Độ. 

 

Trước thời Đức Phật ra đời không lâu thi` tầng lớp mà  trên hết ngự trị xã hội Ấn bấy giờ đó là tầng lớp chúng ta gọi là Brahmana  Bà La Môn, theo nền văn hoá của Vệ Đà thi` xã hội chia ra thành bốn giai cấp trong tiếng Anh thi` dùng chữ class, nhưng Ngài Bodhi thi` Ngài không thoải mái với chữ giai cấp này, Ngài nghĩ rằng chữ giai cấp diễn không đúng lắm với xã hội Ấn.  Y' nghĩa giai cấp theo chúng ta nói là ở trên hết rồi kế đến ở dưới, kế đến dưới nữa nhưng thật ra nên chia thành bốn nhóm biệt lập ở trong xã hội.  Bốn nhóm căn bản của xã hội này thi` gồm có nhóm Bà La Môn, nhóm Sát Đế Lỵ tức là vua chúa, chiến sĩ, nhóm về thương gia và sau cùng nhóm co`n lại là nhóm nô lệ, chúng ta thường gọi là Bà La Môn, Sát Đế Lỵ, Vệ Xá và Thủ Đà, những chữ đó chúng ta thường đọc trong kinh Chữ Hán.  Nhóm Bà La Môn là nhóm chuyên về thọ tri` học hỏi nghiên cứu và hành tri` theo Veda chúng ta thường gọi là Vệ Đà, họ biết nhiều về ngôn ngữ, biết nhiều về cúng tế, biết nhiều về nghi lễ, họ là người nói cho nhà vua biết trên phương diện nghi lễ, luật lệ, cúng tế thần linh phải làm như thế nào.  Nói tóm lại họ chú trọng về vấn đề lễ nghi tôn giáo.

 

Như chúng ta đã nói về giai cấp Bà La Môn là thành phần trong xã hội được xem như là thông hiểu về nghi lễ, về những gi` thiêng liêng tôn giáo, và chính vi` vậy các vị vua trong thời bấy giờ tin rằng họ phải cần đến những vị Bà la Môn này, những vị Bà La Môn này tư vấn về nghi lễ  tôn giáo và sự thịnh suy của một quốc gia hay sự thành công hay thất bại của một vị vua được xem như tùy thuộc rất nhiều, và lời cố vấn của những vị Bà La Môn làm thế nào để thờ phượng để cúng lễ các vị thần linh một cách đúng đắn hợp ti`nh hợp ly'.  Trong khi thành phần thứ hai trong xã hội là thành phần Sát Đế Lỵ

 

Chúng tôi thưa với qúi vị ban nãy là chúng ta thường nói đến giai cấp mà Ngài Bodhi Ngài lưu y' tại đây là chữ giai cấp nó có vẻ không chính xác lắm mặc dầu tiếng Anh họ dịch là class là hệ thống giai cấp có trên có dưới, nhưng khi nói đến Bà La Môn và Sát Đế Lỵ thi` chúng ta khó có thể nói rằng giai cấp nào cao hơn giai cấp nào, Bà La Môn có thể cố vấn cho Sát Đế Lỵ nhưng Sát Đế Lỵ vẫn nắm quyền ăn trên ngồi trước ở trong thiên hạ và giai cấp Sát Đế Lỵ này là giai cấp nắm nguồn máy chính trị, nắm quân đội trong một xã hội, giai cấp này là giai cấp chiến sĩ.  Bên cạnh giai cấp này thi` có giai cấp thương buôn, chính thành phần này là thành phần chủ tri` về kinh tế, họ có thể là một nông gia, họ có thể là một người buôn bán giàu có, nhưng ảnh hưởng của thành phần này ảnh hưởng trực tiếp về kinh tế.  Thành phần sau cùng chúng ta gọi là thành phần thủ đà là thành phần được xem như giai cấp nô lệ, khi có dịp chúng ta sẽ nói thêm về điểm này.  Thi` theo Ngài Bodhi những gi` được ghi nhận trong lịch sử cho thấy rằng trước khi Đức Phật ra đời không lâu và ngay trong thời Đức Phật co`n tại thế thi` quan niệm về sự phân chia bốn thành phần biệt lập ở trong xã hội này nó đang đi đến chỗ mất dần cái biên giới phân chia, tức là quan niệm về giai cấp càng lúc càng yếu đi để nhường chỗ cho hiện tượng vốn dĩ không có tránh được ở trong xã hội.

 

Tất nhiên là thời đó thành phần Bà La Môn vẫn cố gắng và cố gắng một cách hết sức tích cực để giữ vai tro` của mi`nh là người có thẩm quyền trên phương diện tôn giáo cũng như gio`ng Sát Đế Lỵ luôn luôn biểu dương được quyền hạn thống trị của mi`nh, thế nhưng cho dù có hai thành phần đó, tạm gọi là hai giai cấp đó trong xã hội thi` thời Đức Thế Tôn ra đời chứng kiến được sự lớn mạnh của giai cấp Vệ Xá tức là giai cấp mà chúng ta gọi là thương buôn, thương gia, doanh gia, là những người được xem như đầu tàu hay có trách nhiệm về vấn đề kinh tế của quốc gia.  Sự lớn mạnh của giai cấp doanh gia này là một điều rất tự nhiên bởi vi` họ đang ở trong thời ky` kinh tế phát triển và chính vi` vậy là một thách thức, một thay đổi lớn cho giai cấp Bà La Môn và Sát Đế Lỵ ở trên phương diện xã hội.

 

Như vậy thi` do sự phát triển về kinh tế nên thành phần thương gia hay những thành phần trực tiếp để chịu trách nhiệm về sự phát triển kinh tế, thành phần đó càng lúc càng giàu có và có tiếng nói ảnh hưởng nhiều lãnh vực, và người ta cũng ti`m thấy trên phương diện xã hội kinh tế một sự thặng dư.  Thặng dư có nghĩa là người ta sản xuất nhiều hơn nhu cầu, cung nhiều hơn cầu, và do sự thặng dư này xã hội lại có điều kiện có khả năng để cung ứng sự sống cho một thành phần không sản xuất.  Thành phần không sản xuất tức là không cày cấy, không buôn bán, không tạo nên đồng tiền nhưng vẫn có thể sống được, thành phần đó là các vị tu sĩ. Tu sĩ ở đây gồm có hai hạng tu sĩ, hạng tu sĩ đầu tiên chúng ta đề cập đến khi nãy đó là tu sĩ Bà La Môn.  Tu sĩ Bà La Môn chúng ta thường gọi Brahmana, thông thường chúng ta âm là Bà La Môn và cũng có âm khác là Phạm Chí, là những vị Bà La Môn tu theo Vệ Đà, có một hạng tu sĩ khác chúng ta gọi là Samana, Samana chúng ta gọi là Samôn, và trong sự thặng dư về kinh tế xã hội đã có thể cung ứng sự sống cho giai cấp tu sĩ, những giai cấp mà vốn không tự mi`nh sản xuất ra nông phẩm hoặc giả tạo ra đồng tiền để góp phần vào sự phồn thịnh của kinh tế, thi` lúc bấy giờ nếu sự thặng dư lớn về kinh tế trong xã hội thành phần tu sĩ này chúng ta gọi là thành phần Bà La Môn và Sa Môn này phát triển một cách hết sức là mạnh mẽ.

 

Bà La Môn giáo tức là tiền thân của Ấn Giáo mà được biết tới ngày hôm nay bắt nguồn từ 2000 năm trước Tây Lịch, hệ thống kinh điển chính của Bà La Môn giáo gọi là Veda và  ở trong chữ Hán chúng ta thường âm là Vệ Đà.  Căn bản của tôn giáo và căn bản của Bà La Môn giáo đó là chú thuật, tán tụng, tế lễ và những cuộc cúng tế của đạo Bà La Môn đôi lúc kể cả việc giết các gia súc, thậm chí cả đồng nam đồng nữ để tế thần, và mục đích của cuộc tế lễ này là để mang lại sự phồn thịnh trù phú về đời sống vật chất và gia đi`nh ở trong kiếp này và được sanh về Phạm Thiên giới trong kiếp sau.  Cái quan niệm về cúng tế đó là một quan niệm rất phổ cập ở trong xã hội Ấn mà một người khi đọc kinh điển không thể không biết đến.

 

Ở đây chúng ta đã đề cập là sự thực hành quan trọng gọi là tâm điểm của Bà La Môn giáo là ở nghi lễ cúng tế, điều này ảnh hưởng toàn bộ xã hội Ấn thời bấy giờ.  Một hài nhi sơ sinh cũng được làm một thánh lễ hay một nghi thức để ban phước cho hài nhi sơ sinh, môt thanh niên tới tuổi trưởng thành khi chánh thức đánh dấu ngày trưởng thành của thanh niên này người ta cũng nói đến nghi thức của tôn giáo, hôn lễ cũng được xem là một nghi thức quan trọng khác, một người chết đi nghi thức để vãng sanh cũng là một phần quan trọng ở trong nghi lễ của Bà La Môn giáo.  Nói tóm lại bất cứ sự kiện trọng đại gi` ở trong đời người ta đều nói đến một số các nghi lễ, và tất nhiên ngay cả các vi` vua giòng Sát Đế Lỵ cũng cần đến sự cúng tế để họ có thể có được sự thắng lợi trên phương diện quân sự, may mắn trên phương diện kinh tế v.v… và v.v… có thể nói rằng điều này sự cúng tế cầu phước đó là bao phủ toàn thể sắc thái hoặc lớn hoặc nhỏ ở bất cứ thành phần nào trong xã hội (chúng tôi cũng xin mở ngoặc đơn chú thích tại đây một điều là trước ảnh hưởng của Bà La Môn giáo thi` đạo Phật nhất là 500 năm sau khi Đức Phật viên tịch ảnh hưởng Bà La Môn lại trở lại với cộng đồng Phật giáo, và vi` vậy ngày hôm nay Phật giáo vẫn co`n có nhiều hi`nh thức mang tánh cách cúng tế ở trên nhiều duyên sự khác nhau ở trong đời sống hàng ngày, nhất là cầu an cầu siêu v.v…thi` căn bản của người Phật tử làm phước chúng ta phải hiểu là mi`nh tạo ra phước lành như trai tăng, bố thí tri` giới và phước lành mang lại an lạc cho mi`nh có khác đi, nhưng nếu chúng ta không khéo chúng ta tu giống như Bà La Môn hơn là giống như Phật giáo.  Giống Bà La Môn tức là chúng ta nghĩ một số nghi lễ nào đó, một số các câu chú nào đó, một số các hi`nh thức nào đó nó sẽ mang lại phúc lành cho chúng ta trong việc đó, thi` điều đó chúng ta phải nhi`n nhận rằng ảnh hưởng của Bà La Môn giáo nhiều hơn là lời dậy nguyên thủy của Đức Phật, do vậy về phương diện này chúng ta nên biết rất phải cẩn thận).  Chúng ta trở về với bài học ngày hôm nay ở trong phần giới thiệu về thành phần tu sĩ thời Đức Phật co`n tại thế.

 

Chúng ta biết rằng ở trong những cuộc cúng tế trong triều đi`nh thi` nhà vua cúng dường cho các vị tu sĩ Bà La Môn một cách rất hậu hĩ.  Và người Bà La Môn thường nổi tiếng thường rất giàu có do sự cúng tế mang lại.  Điều nên lưu y’ ở tại đây là các vị tu sĩ Bà La Môn thường là những vị mà ở trong Anh ngữ gọi là ………, chúng ta có thể dịch tạm chữ này  HT Minh Châu dịch là Gia Chủ, họ giống như những người mục sư Tin Lành, như những tu sĩ Phật giáo của Nhật Bản, nghĩa là mang hi`nh thức xuất gia đầu tro`n áo vuông sống nhờ vào tín thí như các vị Sa Môn.

 

Chú trọng nhiều về sự có mặt của những kiếp sau, của những kiếp luân hồi mà thay vào đó thi` họ hướng đến việc sanh về cõi Phạm Thiên cộng trú với Đại Phạm Thiên và trở thành một người sống ở trong đời, điều này là một điểm rất tự nhiên của các tôn giáo thần ngã và chính những điều này ảnh hưởng lớn đến Ky Tô Giáo, Do Thái giáo ảnh hưởng đến các tôn giáo, ngay cả Hồi giáo về sau này. (chúng tôi xin mở ngoặc đơn ở đây để chú thích sự khác biệt rất lớn giữa một quan niệm rằng chúng ta co`n luân hồi sanh tử nhiều kiếp cho đến khi chúng ta giải thóat thi` cái phước phần nhưng rồi riêng về Bà La Môn giáo và các tôn giáo thần ngã kể cả Ky Tô giáo bây giờ người ta không nói đến quan điểm kể cả sau khi Đức Phật Ngài viên tịch thi` người ta nói “vãng sanh về Phật quốc” “vãng sanh về các cõi Phật” nhiều hơn là người ta nói đến mi`nh sẽ sanh tử luân hồi lại đời sau kiếp này kiếp khác v.v…mà người ta chỉ nói đến một cảnh giới nào đó và cảnh giới đó về với Phật với Chúa về với Đại Phạm Thiên v.v…Đây là quan niệm rất nổi bậc ở trong các tôn giáo về thần ngã mà chúng ta thấy trong kinh Vệ Đà nói rất ít về sự tái sanh của đời sau và thay vào đó thi` nói về chuyện trở về cộng trú cộng hưởng với các vị Đại Phạm Thiên ở trong cảnh giới của các vị Đại Phạm Thiên.

 

Và chấp nhận cuộc sống bần hàn thanh tịnh có rất ít sở hữu, và những vị Sa Môn là những vị thông thường sống du phương rày đây mai đó đi từ nơi này sang nơi khác, ngoại trừ mùa mưa là mùa mà chúng ta được biết ngày hôm nay gọi là Monsoon tức là ngày đó mưa rất nhiều thi` những vị này dừng lại cư trú tại một nơi nhất định nào đó có mái che và khi mùa mưa chấm dứt thi` những vị này lại tiếp tục nên đường và bởi vi` vị này đi ti`m nơi này sang nơi khác do đó vật tùy thân thường rất đơn giản, vị này không định cư một chỗ, không tích tập tài sản và chúng ta gọi những người đó là thành phần tu sĩ thứ hai, là những vị tu sĩ sống đời sống bần hàn giản dị, sống không gia đi`nh, sống du phương đây đó, Đức Phật và các vị đệ tử của Ngài có cuộc sống tương tựa như vậy cũng được gọi là các vị Sa Môn.

 

Cái cơ sở tính ly’ căn bản của những vị  Samana hay   những vị  Samôn là làm như thế nào để phá vỡ được cái vo`ng luẩn quẩn, vo`ng luẩn quẩn chúng ta gọi  samsaravatta hay luân hồi, đó là sự lập đi lập lại của một vo`ng luẩn quẩn, nghiệp quả phiền não mà vốn dẫn chúng ta đi vào luân hồi sinh tử kiếp trước, kiếp này, kiếp sau và kể cả sự luẩn quẩn trong kiếp này.  Những vị này tin rằng nếu mi`nh muốn làm một cái gi` khác hơn thói quen tập quán, khác hơn sự cuốn hút theo một vo`ng tro`n, một qũy đạo thường đó là phải là một cái gi` đi ngược lại với điều đó, do đó chúng ta thấy rằng cái vị Samôn thời bấy giờ một số tu hành khổ hạnh và một số áp dụng phương pháp khắc kỷ rất lớn, và như vậy sự khác biệt chính ở tại đây là Bà La Môn không chú trọng về sự luân hồi về đời sau, kiếp này và kiếp khác, mà chú trọng vào việc cúng tế để hội thông và trở về với cõi Phạm Thiên, hội nhập sống trong cảnh giới của các vị Phạm Thiên tức là như chúng ta gọi nôm na ngày nay theo Ky Tô giáo là “đi về nước Chúa”. 

 

Co`n các vị Sa Môn là vị ti`m cuộc sống tinh thần xây dựng một lối sống để phá vỡ những thói quen, những phiền não, mà chính những thói quen những phiền não này nó lại đưa đẩy lập đi lập lại trong vo`ng luẩn quẩn mà chúng ta gọi là luân hồi, chúng ta thấy quan niệm về luân hồi và quan niệm về một cảnh giới hay một nước nào đó, hai quan niệm đó khiến cho nó tách rời ra hai khuynh hướng tu tập.  Chúng ta hãy tạm lấy ví dụ gần nhất của người Phật tử ngày nay hiểu quan niệm về sự tu tập, ở đây chúng tôi chỉ chú thích thêm để qúi vị thấy rằng đừng tu tập để mi`nh sanh về một cõi nào đó, một cảnh giới nào đó ở trong tương lai thi` người ta đặt nặng vấn đề nghi thức làm sao để dẫn chúng ta về cảnh giới đó, rồi một hi`nh thức tu tập khác là để làm sao đoạn tận phiền não ở trong hiện tại của chúng ta thi` vị đó tập trung vào sự tu tập hiện đại mà không chú trọng vào nghi lễ nhiều thi` đây là một sự phân lọc rất rõ nét giữa hai thành phần tu sĩ thời bấy giờ là Bà La Môn và Sa Môn.

 

Một quan điểm rất phổ cập ở trong sự hành tri` của các vị Sa Môn thời bấy giờ đó là khổ hạnh.  Tại sao người ta nói tới khổ hạnh, là bởi vi` các vị Sa Môn tin rằng chính dục vọng là sợi giây trói buộc lớn nhất ở trong đời sống con người.   Cho dù rằng con người bị ràng buộc với kiếp trầm luân sanh tử, cho dù rằng con người không thể vượt thoát không thể là cái gi` mới hơn được mà nó lại là cái gi` bị cột chắc vào cái khổ vào cái thói quen tập quán về những kinh nghiệm của mi`nh, và để phá vỡ những nguyện vọng đó người ta nghĩ đến một điều quan trọng là làm sao khổ hạnh.  Khổ hạnh ở đây là một phương pháp khắc kỷ có đôi khi tự hành hạ chính mi`nh, đó chính là khi hành hạ tự thân như vậy thi` người này không có sống chiều theo dục vọng, chiều theo thị hiếu và trái lại đập vỡ nó đi và phương pháp khổ hạnh là phương pháp rất phổ thông, hết sức là được chấp nhận bởi rất nhiều người, kể cả những người không phải Sa Môn cũng vậy, rất ngưỡng mộ phương pháp này.  Chúng ta nói lại một lần nữa là  nếu cúng tế là một hi`nh thái sinh hoạt rất nổi bậc của Bà La Môn, các vị tu sĩ Bà La Môn, thi` khổ hạnh là một hi`nh thức sinh hoạt rất là phổ thông ở trong các vị Sa Môn.

 

Những vị Sa Môn co`n có một quan niệm nổi bậc khác là bên cạnh khổ hạnh người ta co`n nói đến một thứ trí tuệ siêu việc, một thứ trí tuệ có thể liễu tri có  thể nhận thức được những tâm ly’, những ly’ lẽ cao siêu của đời sống và tất nhiên nói đến trí tuệ siêu việt nói đến những nhận thức này thi` dẫn đến những tranh luận mang tánh triết ly’ và thời bấy giờ chúng ta thấy rằng có rất nhiều công viên, rất nhiều hội trường, rất nhiều nơi được dựng lên để cho những vị Sa Môn đến đó để đưa ra những quan điểm những tranh luận cho chính mi`nh.  Vi` có những đối thoại như vậy nên dần dà tạo nên những trường phái, tạo ra những vị giáo chủ, tạo ra những vị đạo sư những vị guru và những vị này có thể nói rằng hết sức nổi tiếng và được trọng vọng và có một đồ chúng đông đảo.  Thi` như vậy chúng ta nói rằng những vị tu sĩ gọi là Sa Môn ngoài khổ hạnh ra co`n có một hi`nh thái khác rất phổ thong, đó là những đối thoại mang tánh cách triết ly’ thần học, mang tánh cách tranh luận, và đây là một điều chúng ta ti`m thấy rất nhiều khi chúng ta đọc những bộ kinh Phật.  Một trong những vị giáo chủ nổi tiếng thời bấy giờ là ……..butta…… mà chúng ta được biết là Liên Kiền Tử và những vị đệ tử của Liên Kiền tử.  Liên Kiền Tử là người đương thời với Đức Phật và những đệ tử của Liên Kiền Tử vẫn co`n tồn tại đến ngày hôm nay mà chúng ta được biết ở tại Ấn Độ với cái tên gọi hiện này là đạo Jain, ở trong chữ Hán chúng ta thường gọi là đạo Ky` Na Giáo, vị giáo chủ đầu tiên mà qúi vị thường nghe trong kinh đó là Liên Kiền Tử, và đúng ra vị này được biết trong đạo Jain là Mahavido chúng ta sẽ có dịp để nói thêm về vị này ở trong tương lai.

 

Như đã nói rằng thành phần Samôn, những vị tu sĩ gọi là Samôn vào thời Đức Phật là những vị không thủ đắc tài sản, không thủ đắc tiền bạc và sự sống của vị này tất cả những nhu yếu từ y áo, vật thực thuốc men chỗ ở đều tùy thuộc vào sự cúng dường hay giúp đỡ của những vị gia chủ những vị cư sĩ.  Chúng ta được biết rằng người Ấn Độ thời bấy giờ hầu hết họ có một quan niệm là chính, vi` những vị này không có tài sản, không có sở hữu do vậy nó là một bổn phận thiêng liêng là một điều cần làm để giúp đỡ cho những vị này, do vậy trong nền văn hoá thời bấy giờ là những vị Sa Môn có thể đi khất thực hàng ngày để nhận thực phẩm cúng dường của những người ở trong làng, có thể là những người tin hay không tin nhưng người ta cũng cho thực phẩm và đôi khi người ta co`n cung ứng chỗ ở cho những vị này như liêu cốc am thất  ở trong mùa mưa và về sau này hi`nh thái của đạo Phật cũng gần giống như vậy gọi là an cư. Những người Ấn Độ gọi là giúp đỡ hộ tri` cúng dường cho các vị Sa Môn là một việc rất quen thuộc trong nền văn hoá Ấn.  Chúng tôi cũng xin chú thích ở đây là không phảt tất cả nền văn hoá đều như vậy, qúi vị đến một vài nền văn hoá thi` người ta không thấy có ly’ do gi` để chu cấp hay giúp đỡ thực phẩm chỗ ở  cho những người mà họ gọi là ăn không ngồi rồi không sản xuất, thành ra cũng có nhiều  văn hoá trên thế giới hoàn toàn không có văn hoá giúp đỡ cho các vị tu sĩ như vậy, việc này là sự khác biệt giữa văn hoá này và văn hoá khác, một điểm cần được nói đến ở đây.

 

Và tất nhiên sự cúng dường hay sự hiến tặng của những người cư sĩ đối với các vị Sa Môn thi` không chỉ thuần là chu cấp trên phương diện nhu yếu cho các vị này mà người ta co`n tin rằng hành động đó là hành động thiện, một phước sự, phước sự này mang lại nhiều phước báu tốt lành cho đời sống hàng ngày cũng như đời sau, và ở đây chúng ta vừa đi qua một vài điểm liên quan đến bối cảnh chính trị kinh tế văn hoá của người Ấn thời bấy giờ, và chúng ta nên ghi nhận một điểm rằng Đức Phật và các đệ tử xuất gia của Ngài là thuộc về thành phần Samana mà chúng ta gọi là Samôn là những vị tu sĩ sống từ bỏ gia đi`nh, sống không gia đi`nh rày đây mai đó không có thủ đắc không sở hữu nhiều, những vị này sống tùy thuộc vào sự cúng dường thực phẩm thuốc men y phục chỗ ở của  các vị đạt đến. Đó là một vài điểm về văn hoá mà chúng ta có thể cần để biết đến trước khi chúng ta đi vào nội dung của bài kinh Trung Bộ trong lớp học ở tuần tới.

 

Chúng ta được biết rằng Đức Phật là vị SaMôn nổi tiếng nhất thời bấy giờ, Ngài trở nên một vị Đạo Sư nỗi lạc ở giữa những Bà La Môn, thi` Đức Phật là một vị SaMôn với một hội chúng SaMôn hết sức quen thuộc cho đến khi Đức Thế Tôn viên tịch, Đức Phật và đệ tử của Ngài được xem như là thành phần SaMôn nổi bậc nhất ở trong xã hội Ấn thời đó.  Chúng ta nên biết sự khác biệt giữa  tu sĩ Bà La Môn và các vị tu sĩ được gọi là SaMôn là như vậy./.