Hành Trình Tâm Linh - Himalaya 

Minh Hạnh phóng sự

"Ngày 26 tháng 3 năm 2010 -   Hành trình thăm viếng rặng Himalaya:  Làng Nagarkot, chùa Namo Buddha, thành phố cổ Patan.

Bài  viết là một tổng hợp sưu tập từ Internet và tóm tắt lời giảng của TT Giác Đẳng trong chuyến hành hương Ấn Độ ngày 26 tháng 3 năm 2010 tại Hi Mã Lạp Sơn.

--

 Ngày 26-3-2010 Sáng sớm ngày 26 tháng 3 năm 2010 chúng tôi rời khách sạn từ thung lũng Kathmandu vào lúc 4:00 sáng để làm một cuộc hành trình đến rặng núi Hi Mã Lạp Sơn. Nếu theo đường chim bay thì không xa nhưng vì là đường đá dốc leo núi và con đường đá lởm chởm gồ ghề xe leo dốc rất chậm do vậy cũng mất thời gian khá lâu cho cuộc hành trình đi ngắm mặt trời trên rặng núi Hi Mã Lạp Sơn này. Tuy nhiên vì đây là một chuyến đi mà phái đoàn mong đợi từ nhiều ngày nên mọi người rất hăng hái dậy sớm để lên đường. Mở đầu chuyến đi là bài tụng kinh Tam Bảo do TT Giác Đẳng hướng dẫn, anh chị em trong đoàn nhất tâm tụng kinh trong niềm tin Tam Bảo. Sau phần tụng kinh TT Giác Đẳng bắt đầu giảng đề tài Phật Giáo và dãy Hi Mã Lạp Sơn.

Núi Everest

Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) là một rặng núi ở châu Á, phân chia tiểu lục địa Ấn Độ khỏi cao nguyên Tây Tạng. Đó cũng là tên của một rặng núi hùng vĩ bao gồm cả Himalaya theo đúng nghĩa của từ này, Karakoram, Hindu Kush và các dãy núi nhỏ khác trải dài từ Pamir Knot. Không phải chỉ đơn thuần là chúng ta nói đến những ngọn núi cao chất vất mà ngay cả những phần núi non kéo dài cho đến miền bắc của Thái Lan như ở Chiang Mai cũng là nằm một phần của rặng Hi Mã Lạp Sơn.

Himalay tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Sanskrit, himālaya, một tatpurusa từ kép mang ý nghĩa "nơi ở của tuyết" (từ chữ hima "tuyết", và ālaya "nơi ở";). Trong kinh điển chữ Hán thường gọi là "Tuyết Sơn", nhưng nhiều vị học giả ở trong đó có Ngài Ưu Ba La Thập và Ngài Huyền Trang thì không thoả mãn với nghĩa "Tuyết Sơn" do đó các Ngài giữ nguyên chữ Phạn âm là Himalaya.

 

 Rặng núi Himalaya là dãy núi cao nhất hành tinh và là nơi của 14 đỉnh núi cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8.000 m, bao gồm cả đỉnh Everest. Để thấy được kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trong dãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi rặng núi Himalaya có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m.

Dãy Himalaya trải khắp 5 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Pakistan. Nó cũng là nơi khởi nguồn của 3 nguồn sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sông như sông Ấn, sông Hằng-Brahmaputra và sông Dương Tử. Khoảng 750 triệu người sống trên lưu vực của các con sông bắt nguồn từ dãy Himalaya, tính luôn cả Bangladesh. 

       Làng Nagarkot chụp từ xa

 Himalaya là một dãy núi có rất nhiều dấu ấn để lại trong nền văn hóa đạo học cũng như sinh hoạt bình thường của người Ấn, lấy ví dụ trên phương diện điêu khắc và nghệ thuật thì người ta nói rằng kiến trúc chùa tháp của nền nghệ thuật Ấn Hồi và nghệ thuật đặc trưng của Ấn Độ. Ví dụ như ngôi chùa Thái mà chúng ta đã viếng tại Lâm Tì Ni đó là khuôn mẫu chùa tháp được xem rất phổ thông vào thời cổ. Chùa tháp là cảm hứng từ núi Himalaya mà ra, có rất nhiều chùa tháp ở đây kể cả những ngọn tháp lớn thì cũng lấy từ hình ảnh một ngọn núi.

 

Nếu chúng ta về thăm những triền núi ở Hi Mã Lạp Sơn, những tu viện lâu đời vẫn nằm tại đó và đó cũng là một điều mà đôi khi chúng ta thắc mắc ví dụ như thánh địa Lumbini ở trong nhiều thế kỷ không có ai biết tới gần như quên lãng chỉ có những tu viện Phật giáo rất hưng thịnh liên tục trong nhiều thế kỷ, không biết tại sao có lúc nào đó người ta quên hẳn đi những thánh tích quan trọng tại Ấn Độ. Về thủ đô Kathmandu của Nepal thì chúng ta mới thấy sức sống đặc biệt của người dân Nepal và nếu chúng ta được đi Hi Mã Lạp Sơn thì người ta thường mệnh danh Hi Mã Lạp Sơn là nóc nhà của thế giới, Hi Mã Lạp Sơn đã trở thành một ngọn núi của huyền thoại nhắc nhở trong kinh điển lớn của Phật giáo của Jainism của Ấn Giáo, và thậm chí ví dụ như Đức Bổn Sư của chúng ta trước khi Ngài thành đạo Ngài nằm thấy năm điều đại mộng ở trong đó có một điều là Ngài đã gối đầu lên ngọn núi Hi Mã Lạp Sơn để ngủ.

          Một căn hộ tại làng Nagarkot

 Ranh giới của Nepal và Ấn Độ ngày nay là được vẽ bởi người Anh trong cuộc chiến tranh British-Indio vào năm 1892, sau đó thì chính quyền thuộc địa Anh đã có những thỏa ước liên quan đến biên giới, do vậy vương quốc của giòng họ Thích Ca là một vương quốc nằm một phần bên Nepal và một phần bên Ấn Độ.

Ngày xưa dọc theo chân núi Hi Mã Lạp Sơn có bốn tiểu quốc là vương quốc giòng Thích Ca, vương quốc Koliya, vương quốc Malla và vương quốc Licchavri. Vương quốc Koliya là quê ngoại của Đức Phật, vương quốc Malla là nơi Đức Phật Ngài viên tịch và vương quốc Licchavri là nơi Đức Phật cho thành lập giới đoàn tỳ kheo ni. Bốn tiểu quốc này nhỏ so với vương quốc Kosala (Kiều Tát La) nhưng bốn vương quốc này lại có đặc điểm là quân đội rất tinh nhuệ vì họ ở vùng sơn cước do đó có những chiến sĩ rất quả cảm. Đọc lịch sử của Anh quốc thấy rằng vào thời Anh quốc cai trị Ấn Độ và cho đến bây giờ cũng vậy có một giống dân Nepal gọi là Gurkhas được chiêu mộ bởi người Anh cho những lưc lượng biệt kích, chúng ta gọi là sư đoàn Gurkhas, họ là những sư đoàn rất thiện chiến nổi tiếng hơn là lính Lê Dương của Pháp, cho đến ngày hôm nay thì những người này họ được tuyển mộ vào trong quân đội Anh, thậm chí có một lần chính phủ

               Những người phụ nữ làng Nagarkot

 Nepal than phiền là những người lính Nepal Gurkhas một người lính lãnh lương cao gấp bốn lần lương ông bộ trưởng Nepal, họ nổi tiếng là những người quân đội quả cảm thiện chiến và đã có mặt trong quân đội Anh như một bộ phận hết sức tinh nhuệ cho những công tác đặc biệt, họ là những người đến từ Nepal là dân miền núi.

Giòng sông Rohini là danh phận của hai xứ Koliya và Sakya tức là quê nội và quê ngoại của Đức Phật. Trong kinh thường nhắc đến giòng sông Rohini qua câu chuyện là có một lần giòng Thích Ca và giòng Koliya tranh dành nước sông Rohini vào mùa cạn và Đức Phật Ngài xuất hiện Ngài hỏi: "Nước sông và máu cái nào qúi hơn" thì cả hai bên đều hoà giải. Thỉnh thoảng có những câu chuyện về Đức Phật Ngài can thiệp vào những sự việc như vậy. Trong quá trình Đức Thế Tôn tu tập Ngài có ba nguyện một là cứu độ chúng sinh, hai là tự mình giác ngộ, ba là tế độ quyến thuộc, ở trong quá trình đó thì Đức Phật đã làm rất nhiều cho quyến thuộc nhưng sau khi Ngài chứng quả thì Ngài mang lại phúc lạc rất nhiều cho thân bằng quyến thuộc.

 Người dân Nepal đã dùng những tên của các vị đại đệ tử Phật để làm nhãn hiệu thí dụ như Angulimala hay là Upali, họ bán sữa chua hay bán vé máy bay họ lấy tên là Sĩ Đạt Đa Tourt, có khi tiệm hớt tóc cũng lấy họ của Đức Phật là Cồ Đàm, họ xem chuyện đó bình thường trong khi đó là sự cấm kỵ đối với chúng ta. Đó là do vấn đề văn hóa, như người Tây Phương họ thương ai thì họ lấy tên người đó đặt cho con chó hoặc họ đặt tên cho con của họ nhưng đối với chúng ta điều đó là sự thiếu tôn kính, ở trong văn hoá nhiều khi chúng ta không nói chuyện đó đúng hay là sai nhưng phải nói một điều là một số có tánh cách thương mại hóa, nhưng một số khác thì người Ấn giáo họ cũng cảm thấy rằng họ rất hãnh diện là Đức Phật Ngài ra đời ở trên vùng đất này.

  Rặng núi Hi Mã Lạp Sơn đã được nhắc nhiều đến trong Túc Sanh Truyện của Phật giáo nếu chúng ta đọc những câu chuyện tiền thân của một nền văn học Jàtaka thì trong đó Tuyết Sơn là hình ảnh được nhắc đến nhiều khi tiền thân của Đức Thế Tôn còn ở trong kiếp luân hồi. Trong nhiều kiếp có khi là đạo sĩ, có khi là vị thọ thần, có khi là loài khỉ hay là loài chim sống ở rặng Hi Mã Lạp Sơn.

                Người phụ nữ Nagarkot

  Một điều chúng ta thấy rất rõ ràng là Tuyết Sơn đã là nguồn cảm hứng bất tận cho những người từ bỏ ra gia đình sống không gia đình, thật sự thì người ta nói rằng lý tưởng xuất gia từ bỏ gia đình để sống cuộc sống độc cư có lẽ là một cái gì đến từ cảm hứng đời sống trên núi tuyết, đó là một thế giới mênh mông vô tận, cảnh trí rất hùng vĩ và ở trên đó thì không có quyền thống trị hà khắc của quan lại của vua chúa, mà đó là một cõi riêng mênh mông thiên địa tự hữu, ở trên thế giới mênh mông là cõi của các vị Mu Ni, các vị ẩn sĩ, của những bậc hiền triết, và không có ít tác phẩm vĩ đại của nền văn học Ấn cũng như Trung Hoa bắt nguồn từ Hi Mã Lạp Sơn.

 

  Tại Trung Hoa thì một số người dùng chữ Tuyết Sơn nhưng đa phần là người ta nói đến Tây Vực, nói đến cao nguyên Thanh Hải, là một phần bên kia của Trung Quốc. Thật sự thì trong quá khứ phần lớn ngọn Hi Mã Lạp Sơn ở Trung quốc ngày nay nằm trong lãnh thổ của đất nước Tây Tạng và bây giờ Trung quốc đã chiếm đất nước Tây Tạng do vậy Trung quốc thừa hưởng một phần lớn núi Hi Mã Lạp Sơn mà Tây Tạng làm chủ trước kia. Tuy vậy trong quá khứ khi nói đến Tây Vực thì người Trung Hoa đã mơ màng đến một thế giới rất xa xôi kỳ bí về phương diện đạo học và một nền văn hoá rất là khác biệt với nền văn hóa của Vân Nam nền văn hóa của sông Hoàng Hà, bởi vì không có ở đâu cho chúng ta thấy rõ ràng như ở Vân Nam. Vân Nam là một tỉnh thừa hưởng rất nhiều nền văn hóa đa sắc tộc đa tôn giáo với một địa lý nhiệt đới, ôn đới, hàn đới và vì vậy Vân Nam đã trở thành một hình ảnh rất đặc biệt trong lòng người Trung quốc khi nghĩ tới trên núi cao cũng là phần đất của Hi Mã Lạp Sơn.

 

            Mặt trời mọc trên đỉnh Tuyết Sơn, chụp từ làng Nagarkot

 Người Việt Nam có một lầm lẫn là sau khi Thái Tử Sĩ Đạt Đa rời bỏ hoàng cung Ngài trở thành một vị tu sĩ tu khổ hạnh ở trên núi tuyết và do vậy những tượng tu khổ hạnh ở trong các ngôi chùa như chùa Tây Phương ở miền bắc, đa số ở miền bắc họ gọi là Tuyết Sơn, Tuyết Sơn tức là tu ở trên núi tuyết. Thật ra khi chúng ta về Bồ Đề Đạo Tràng thấy rằng Đức Bồ Tát sau khi rời khỏi hoàng cung thì Ngài suôi về Nam chứ Ngài không đi về Bắc, quê hương của Ngài nằm ở dưới chân núi Hi Mã Lạp Sơn và Ngài đi về hướng Nam, lý do dễ hiểu là khi Ngài xuất gia thì Ngài không muốn ở trong phạm vi của xứ Kiều Tát La (Kosala.) Kiều Tát La là một vương quốc nằm dưới dãy Hi Mã Lạp Sơn và tiểu quốc giòng Sakya giòng Thích Ca là một chư hầu của xứ Kosala do vậy Ngài đã suôi về Nam đi thẳng đến Ma Kiệt Đà và ngày nay phần lớn vương quốc Ma Kiệt Đà nằm trong tỉnh bang Bihar trong khi đó Kosala thì phần lớn nằm ở tỉnh bang Uttar Pradesh. Thời Đức Thế Tôn còn tại thế thì Ma Kiệt Đà là một trung tâm tôn giáo tín ngưỡng rất lớn ở trong lưu lượng của sông Hằng do vậy Ngài đã đi về phương Nam và Bồ Đề Đạo tràng và khổ hạnh lâm những nơi mà Ngài đã sống ở trong thời gian hành đạo lâu dài khổ hạnh thì nó không nằm ở Hi Mã Lạp Sơn như là nhiều người lầm tưởng và phải có sự điều chỉnh tượng khổ hạnh không phải là tượng Tuyết Sơn được.

 

Tuy nhiên trong kinh Bổn Sanh tức là những câu chuyện tiền thân của Đức Bồ Tát thì có rất là nhiều kiếp Ngài từng là đạo sĩ ở trên núi Tuyết Sơn. Tuyết Sơn không phải là chứa đựng kỳ bí trên phương diện khách quan mà Tuyết Sơn còn là một nơi mà chúng ta tìm thấy rất nhiều sự đa dạng về đạo Phật và kể cả môi trường sống. Chúng tôi có đọc một tài liệu của tờ National Geographic ở Hoa Kỳ họ nói rằng nhờ vào vệ tinh nhân tạo, nhờ vào máy chụp ảnh ở trên không người ta đã khám phá ra những túi nhỏ tương đối rất nhỏ nhưng lại chứa đựng cây cỏ nhiệt đới ở trên rặng Hi Mã Lạp Sơn, vì lý do thỉnh thoảng có những vách núi treo leo và ở dưới chân vách núi đó thì do thời tiết đặc biệt của núi Hi Mã Lạp Sơn đã tạo thành một nơi mà có thời tiết hoặc là ôn đới, nó không đến nỗi như nhiệt đới nhưng lại thích hợp cho những loại cây kể cả chuối cũng mọc ở trên đó được. 

Mặt trời mọc trên đỉnh Tuyết Sơn, chụp từ Làng Nagarkot

 Và những nhà địa chất cho chúng ta biết rằng cách đây khoảng chừng sáu mươi triệu năm thì có một mảng lục địa và họ gọi là India plateau đã trôi dạt và đụng chạm vào lục địa mà ngày nay chúng ta được biết là sa mạc Gobi và do hiện tượng địa chấn nên nó tạo thành rặng Hi Mã Lạp Sơn. Đúng ra thì chính trong kinh Đức Phật Ngài cũng đã có lần Ngài nói rằng:

"Này Chư Tỳ Kheo, có thời Hi Mã Lạp Sơn là biển cả và có thời kỳ biển cả là núi, có thời núi là biển cả."

 

Như tại Hoa Kỳ chúng ta được biết rằng tiểu bang Colorado thành phố Denver có những mẫu hóa thạch như sò ốc những thứ thường thấy ở đáy biển bây giờ nằm ở trên núi. Hi Mã Lạp Sơn cũng vậy, người ta tìm thấy những mẩu hóa thạch, hôm qua qúi Phật tử đi đến trung tâm Boudhanath thấy những mẫu hoá thạch người ta bày bán ở các cửa hàng thì chúng ta cũng được biết rằng vào thời xa xưa nào đó thì Hi Mã Lạp Sơn từng là lòng đại dương từng là đáy biển và do vậy những loài thủy tộc hóa thạch vẫn còn tìm thấy dấu vết bằng đá trên dãy Hi Mã Lạp Sơn. Thật ra ngày xưa Đức Phật Ngài dạy như vậy có lẽ khó ai tưởng tượng được một vùng núi cao như vậy đã từng là biển cả nhưng mà "thương hải biến vi tang điền - bể xanh hóa thành nương dâu." Đó là chuyện mà chúng ta nói rất là đơn giản nhưng chủ ý thì chỉ nằm ở trong bao nhiêu thứ hiện tượng. 

                chụp tại làng Nagarkot nơi ngắm mặt trời mọc

Ở biển Chilean người ta khám phá ra một ngọn núi có chiều sâu nằm dưới đáy biển nếu ngọn núi đó mà đưa lên mặt biển thì nó cao hơn ngọn núi Everest mặc dù chúng ta nói đến Everest là có chiều cao trên chín ngàn mét, nhưng chúng ta đừng quên rằng ở dưới lòng biển như vùng Mindanao của Philippines lại có những canyons (hẻm núi) sâu mười mấy cây số thì như vậy chiều sâu của biển và chiều cao của núi thì thật ra nếu chúng ta tính từ chân cho đến ngọn thì vẫn có những ngọn núi ở dưới biển cao hơn núi ở Hi Mã Lạp Sơn mà nó chỉ không trồi lên trên biển mà thôi, nhưng nói về độ cao cách lòng biển thì ngọn núi Everest là ngọn núi cao nhất.

 Everest là một ngọn núi nằm trong dãy Hi Mã Lạp Sơn và chúng tôi nhớ rằng tám trong số mười ngọn núi cao nhất của thế giới thì tám ngọn núi nằm trong xứ Nepal. Nepal giống như Thụy Sĩ là vào thời xa xưa là một vùng sơn cước hiểm trở núi non vì vậy vùng này lại là một thế giới của sắc dân thiểu số những sắc dân mà chúng ta gọi là Mongolian là những người quen sống ở miền cao và họ ít bị xâm lăng bởi những thế lực sống dưới bình nguyên như đế quốc Ấn Độ hay đế quốc Trung Hoa, do vậy trong lịch sử của chúng ta hồi xưa thì những vùng đất như cao nguyên Thanh Hải, Tây Tạng, Tây Vực, Hi Mã Lạp Sơn hay Nepal thường là vùng đất độc lập, thứ nhất là họ không có nhiều tài nguyên, thứ hai là địa thế hiểm trở rất dễ phòng thủ và do vậy những thế lực ngoại xâm từ đồng bằng ít khi dòm ngó đến những vùng đất cao và những vùng đất cao họ thường giữ được sự độc lập riêng của họ và họ giữ được riêng vùng đất của họ. 

 

Tấm phù điêu khắc Đức Bồ Tát đang cho cọp đói ăn thịt mình - được thờ tại trên đỉnh núi chùa Namo Buddha

 Như đất nước Thụy Sĩ thì ngày xưa các nước Ý, Đức, Pháp ít ngó đến Thụy Sĩ vì đất nước hiểm trở. Và người miền núi không dễ bị cai trị, người ở miền núi họ sống độc lập và họ dựa vào núi non hiểm trở, sự hiểm trở tạo thành cuộc sống riêng của họ, có thể là họ cô lập từ thế giới ở bên ngoài nhưng họ lại có được lợi thế tự bảo vệ không cho người khác xâm lăng.

Những nhà học giả ngày nay nghiên cứu về Phật giáo thì họ có sự phân chia tương đối liên quan đến ngọn Hi Mã Lạp Sơn, ở trong cách phân chia của một số các học giả thường thường người ta hay chồng vực với nhau đó là có hai tông phái Phật giáo, một là Phật Giáo Nguyên Thủy, hai là Phật Giáo Phát Triển, thì Phật Giáo Đại Thừa xem như là Phật Giáo Phát Triển, tức là từ gốc nguyên thủy qua đó thêm màu thêm sắc thích nghi các văn hoá địa phương tạo nên màu sắc gọi là Phật Giáo Phát Triển. Giữa Phật Giáo Nguyên Thủy và Phật Giáo Phát Triển dựa vào hai tông phái là Phật Giáo Thượng Tọa bộ và Phật Giáo Đại Chúng Bộ và trong cách phân chia này Phật Giáo Bắc Tông và Phật Giáo Mật Tông thuộc về Phật Giáo Phát Triển, thế nhưng trong cái nhìn của Phật Giáo Mật Tông thì họ không đồng ý như vậy. Phật Giáo Mật Tông thì có cái nhìn khác với các nhà sử học.

 Đối với Phật Giáo Đại Thừa thì Mật Tông Tây Tạng cũng là một nhánh Phật Giáo Đại Thừa.

Nhưng Phật Giáo Mật Tông thì họ xem rằng họ cao hơn Phật Giáo Đại Thừa, Phật Giáo Mật Tông là Kim Cang Thừa hay là Tối Thượng Thừa.

Do đó trong cái nhìn của Phật Giáo Mật Tông thì có ba tông phái là: Phật Giáo Tiểu Thừa, Phật Giáo Đại Thừa và Phật Giáo Kim Cang Thừa hay là Tối Thượng Thừa.

Trong khi các nhà sử học thì xem Phật Giáo Mật Tông với Đại Thừa là một, nhưng về sau này người ta có một sự phân chia: Phật Giáo Nam Tông, Phật Giáo Bắc Tông và Phật Giáo Hi Mã Lạp Sơn. Phật Giáo Hi Mã Lạp Sơn chỉ cho Phật Giáo nằm ở chân núi rặng Hi Mã Lạp Sơn ở trong đó có Tây Tạng là chủ vị, có Bhutan, Sikkim và dĩ nhiên là có Mông Cổ và một phần của Nga cũng ảnh hưởng nhưng xem như ảnh hưởng xa, cái gốc vẫn là chung quanh Hi Mã Lạp Sơn.

                 chụp tại trước đền thờ Đức Bồ Tát xả thân cho cọp đói

 Người dân sơn cước thường đậm màu sắc và Phật Giáo Mật Tông hay Phật Giáo Hi Mã Lạp Sơn thì chứa đầy câu chuyện huyền bí và màu sắc. Về Vân Nam lên thăm nền văn minh Đông Ba và về những vùng núi Tây Tạng thì qúi vị sẽ thấy rằng những pháp khí pháp cụ như là kèn trống chuông mõ và kể cả mão Tỳ Lô mà chúng ta gọi là mão Địa Tạng đều bắt nguồn từ dân ở miền núi, vị đạo sĩ Đông Ba tức là vị đạo sĩ theo đạo Bon của Tây Tạng không phải là Phật Giáo, qúi vị có thể nhìn ở trên đường thì họ cho chúng ta cái cảm giác như vị thầy bên Phật Giáo Đại Thừa lúc đăng đàn chủ tế đội mão Tỳ Lô mặc đại y tương tự như vậy, bởi vì có nguồn gốc từ miền núi mà ra. Về nghệ thuật Phật Giáo tại miền núi thì muôn màu muôn sắc, chúng ta phải nhìn nhận rằng màu sắc của Phật Giáo Tây Tạng rất khéo rất đẹp. Đời nhà Thanh bên Trung Hoa ảnh hưởng Phật Giáo Mật Tông ở trong cung đình có rất nhiều màu sắc, đặc biệt họ sài một loại màu xanh dương pha màu tím thành một màu vua chúa là một màu trong ngành nghệ thuật mà cả thế giới tán thưởng. Những Thangka và những Mạn-đà-la cho thấy nghệ thuật dùng màu tại miền núi lên cao điểm có thể nói rằng hội hoạ cũng như là những hoa văn trong nền kiến trúc được ưa chuộng khắp thế giới.

 

Phật Giáo Mật Tông hay Phật Giáo Hi Mã Lạp Sơn có nhiều hình thức lễ lạc cúng bái và lạy lục bái sám gấp bao nhiêu lần người bình nguyên, chúng tôi lấy ví dụ là ở các chùa Phật Giáo Đại Thừa có một nghi thức lạy hồng danh đôi khi tụng kinh vạn Phật tức là tụng mười ngàn hồng danh vị phật hay lạy hồng danh Bồ Tát lạy 108 lạy, lúc chúng tôi ở Việt Nam thấy việc lạy lục như vậy là chuyện rất là chịu khó nhưng sau này sang Hoa Kỳ và sang Ấn Độ thấy nhà sư Tây Tạng lạy buổi sáng, buổi chiều có khi cả ngàn lạy, hai ngàn lạy là chuyện thường, thì điều đó ảnh hưởng nền văn hóa của miền núi.

Người Tây Phương bị lôi cuốc bởi Phật Giáo Tây Tạng là bởi vì Phật Giáo Tây Tạng họ rất dõng mãnh tích cực ở trong niềm tin của họ, người ở đồng bằng bình nguyên cũng có người rất tích cực nhưng số đó là số ít, đa số chúng ta nặng về tư tưởng hơn là hành động. ở đây 

                      chụp tại bên hông chùa Namo Buddha

chúng tôi không nói về cái giá trị của tông phái mà chúng tôi chỉ nói về phong thổ địa dư ảnh hưởng đến con người rất nhiều và chính vì vậy Hi Mã Lạp Sơn cho dù là phần đất tây vực của Trung quốc hay của Nepal hay của Ấn Độ ngày nay một phần tại Pakistan, hay tại Bangladesh, người dân ở miền núi thì nhiều màu sắc và họ có vẻ rất năng động trong sự sinh hoạt của họ hơn là dân ở đồng bằng, họ rất sẵn sàng để chuẩn bị cho những trận tuyết dữ dội vào mùa đông thực phẩm rất khan hiếm đôi khi họ phải ăn đồ khô, họ rất giỏi về việc gìn giữ thực phẩm nhiều tháng và thậm chí chúng ta có nghe được vị đạo sĩ nhập thất tức là sống trong động đá vài ba năm trời không hạ san, sống với một ít nước lấy từ tuyết và đôi khi họ sống với một ít lương khô mà để nhiều năm được. Chuyện này rất dễ hiểu bởi vì người ta có thể sống được nếu người ta không vận động nhiều họ không dùng thán khí nhiều họ có thể sống với một số thực phẩm rất là khiêm tốn.

 Chúng tôi đến làng Nagarkot trời vẫn còn tối vào khoảng 5:30 sáng, tại đây chúng tôi ngắm cảnh núi rừng lúc rạng đông, không khí trong lành mát mẻ và thanh tịnh. Làng Nagarkot là một ngôi làng nằm trên độ cao của một ngọn núi trong rặng Hi Mã lạp Sơn tọa lạc tại 32 km về phía đông của Kathmandu, Nepal nằm trong huyện Bhaktapur . Năm 1991 làng Nagarkot có 3.504 dân số và khoảng 655 căn nhà. Ở độ cao 2.195 mét, được coi là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhất trong Quận Bhaktapur. Nổi tiếng với xem mặt trời mọc trên rặng Himalaya bao gồm cả núi Everest cũng như các đỉnh núi tuyết khác của dãy Himalaya ở miền đông Nepal. Tại Nagarkot người ta có thể nhìn toàn cảnh của Thung lũng Kathmandu.

 

                 chụp tại sân trước của chùa Namo Buddha

Nagarkot là một địa điểm du lịch quốc tế với những cảnh quang hùng vĩ của dãy toàn bộ Langtang, mặt trời mọc trên núi và cảnh mặt trời lặn. Buổi rạng đông trên một điểm cao của làng Nagarkot từ đây chúng tôi có thể thấy toàn cảnh của một nền phong cảnh quyến rũ và những ngọn đồi với những thung lũng Kathmandu thật đẹp, không khí trong lành và mát lạnh. Chúng tôi mọi người đều thủ kỹ trong những chiếc áo coat yên lặng chờ đợi mặt trời mọc và rồi từ một điểm đỏ rực từ cuối chân trời từ từ hé lộ, mọi người thật bất ngờ với cảnh đẹp tuyệt vời của vừng rạng đông với núi non trùng trùng mờ mờ trong màn đêm, một cảnh quá là tuyệt vời, mặt trời đỏ rực nổi bậc trên những ngọn núi còn phủ sương đêm, chúng tôi phải nói rằng thật là đẹp, thật là hùng vĩ.

 Mặt trời từ từ lên cao trả lại cho vùng Hi Mã Lạp Sơn ánh sáng buổi ban mai. Chúng tôi rời làng Nagarko sau một tuần trà sữa do TT Giác Đẳng đãi trong một tiệm ăn sáng ngay kế bên sân nơi chúng tôi đã trải qua hàng giờ nhìn ngắm mặt trời mọc trên đỉnh núi. Xe leo dốc xuống cũng vất vả không kém lúc lên dốc, vì bây giờ với ánh sáng mặt trời tỏa sáng mọi cảnh vật do vậy chúng tôi mới nhìn thấy đoạn đường mà lúc sớm xe đã leo lên, đó là những đoạn đường trên vách núi chênh vênh, từ cửa kính xe bus nhìn xuống thấy khe núi, thấy rừng xanh cây cỏ mọc tươi mát, và thấy sự sinh hoạt của người dân làng Nagarkot. Có nhìn thấy tận mắt cảnh sinh hoạt của người dân làng Nagarkot thì mới cảm nhận được rằng mình đây thật là có phước duyên thật lớn, những người phụ nữ đang còng lưng với dáng đi khum khum vì trên lưng cô đeo một cái gù có vẻ như là rất nặng vì đã được chất đầy cành lá, hay một người phụ nữ khác đang khom mình thổi lửa trong một cái bếp ngoài sân, tuy cảnh trí thật thanh bình nhưng nhuộm vẻ cơ cực.

Xe trở lại thành phố Kathmandu và chúng tôi ngồi trên xe bus chờ độ một tiếng để đổi sang chiếc xe bus khác nhỏ hơn để làm một cuộc hành trình khác lên rặng núi Hi Mã Lạp Sơn thăm viếng chùa Namo Buddha nằm trên một ngọn núi của Tuyết Sơn.

                  TT Giác Đẳng tại cổ thành Patan

  Đoạn đường này cũng không khác với đoạn đường đến làng Nagarko, nghĩa là cũng leo lên dốc núi và từ núi này xe chạy qua núi kia bằng những đoạn đường đá gồ ghề lởm chởm, phong cảnh thật là ngoạn mục, toàn là núi và núi cheo leo ngất ngưởng. Từ cửa kính xe bus nhìn toàn phong cảnh của rặng núi Hi Mã Lạp Sơn bao la bát ngát, chỉ thấy ngọn núi này đến ngọn núi kia thật là hùng vĩ. Nghĩ rằng nếu có được cuộc sống hưởng nhàn ẩn cư ở tuổi về hưu tại đây với núi non bao la bát ngát, cảnh trí hùng vĩ và tâm thật là tịnh tịch thì đây là Niết-Bàn và tôi như đã thấm lời giảng của TT Giác Đẳng "Tuyết Sơn đã là nguồn cảm hứng bất tận cho những người từ bỏ ra gia đình sống không gia đình, thật sự thì người ta nói rằng lý tưởng xuất gia từ bỏ gia đình để sống cuộc sống độc cư có lẽ là một cái gì đến từ cảm hứng đời sống trên núi tuyết, đó là một thế giới mênh mông vô tận, cảnh trí rất hùng vĩ và ở trên đó thì không có quyền thống trị hà khắc của quan lại của vua chúa, mà đó là một cõi riêng mênh mông thiên địa tự hữu, ở trên thế giới mênh mông là cõi của các vị Mu Ni, các vị ẩn sĩ, của những bậc hiền triết.... " Ôi, sao mà lý tưởng quá !!!

 

Xe đến chùa Namo Buddha, mọi người xuống xe và bắt đầu tham quan cảnh trí của ngôi chùa.

Chùa Namo Buddha là nơi tối cao thiêng liêng nằm ở vùng núi khoảng 2 ½ giờ, kể từ Kathmandu. Đây là một trong những địa danh hành hương quan trọng nhất của Phật giáo tại Nepal và một trong những nơi linh thiêng nhất trên thế giới. Nó được biết đến như là nơi Đức Phật, trong một tiền kiếp Ngài là vị đạo sĩ , đã cho cơ thể của mình để một cọp cái đói ăn thịt mình. Có một ngôi chùa rất cũ ở làng Namo Buddha, nằm trong khu Thrangu Rinpoche, trên đỉnh núi.

             Cổ thành Patan

 - Trong tài liệu nói nơi này ngày xưa chỉ có hai phần là ngọn tháp ở trên và trong này có một bia đá tạc một phù điêu tượng một con cọp và Đức Bồ Tát đang cho cọp ăn thịt mình. Thật ra trong kinh nói rằng ngày xưa tại nơi đây có một cái vực và khi Bồ Tát là đạo sĩ tu trên này Ngài nhìn thấy một con cọp cái đang đói và chung quanh có bốn con cọp con, Ngài không biết cách nào để cứu con cọp cái đó mà tự Ngài gieo mình xuống, và lúc Ngài gieo mình xuống thì con cọp không đủ sức vồ Ngài nữa, Ngài lấy con dao rừng cắt ngón tay Ngài và nhỏ máu vào miệng con cọp cái cho đến khi con cọp cái đủ sức ăn thịt Ngài.

Trong đạo Phật có nói một chuyện là con người của chúng ta khi đạt đến một trạng thái tâm linh là xả kỷ. Xả kỷ có nghĩa là ở trên đời sống một điều làm cho chúng ta hạnh phúc nhiều nhất là nghĩ về bản thân của mình "cái này là của tôi, cái này là cho tôi, cái này là vì tôi." Nếu có người nào làm cái gì vì mình thì mình rất là hạnh phúc. Nhưng Đức Phật Ngài cũng cho biết rằng trạng thái hạnh phúc đó cũng là trạng thái bỉ ngã, nó cho hạnh phúc nhiều nhất và cũng cho đau khổ nhiều nhất. Người nào sống trên đời này mà nghĩ đến mình nhiều quá thì người đó khổ vô cùng. Ví dụ như là người nào đó cầm cây chổi quét cho thập phương bá tánh mà không nghĩ gì đến họ hết lúc đó họ cảm nhận là họ hạnh phúc mà họ không nghĩ gì đến bản thân mình. Đức Bồ Tát trong quá trình tu tập của Ngài là Ngài thực hiện 5 pháp đại thí trong đó là bỏ bản thân của Ngài, bỏ mạng sống của Ngài.

 

Trên tháp Namo Buddha những người Phật tử Tây Tạng họ đã treo rất nhiều lá phướng còn gọi là linh kỳ trong các màu xanh và đỏ bay phất phớt trước gió thật là đẹp. Những tấm phướng đó họ đã chép kinh Bát Nhã hoặc chú Chuẩn Đề, hay viết tám chữ "Om Ma Ni Bát Mi Hum." Những linh kỳ thường được treo ở những nơi linh thiêng, những nơi miền núi linh kỳ treo trên đó nói lên một trạng thái rộn rã hoan hỉ.

 Chúng tôi vào trong đền thờ Ngài Bồ Tát lễ sau đó được vị tri khách của chùa hướng dẫn đi tham quan ngôi chùa.

Ngài Khenchen Thrangu Rinpoche đã xây dựng một trung tâm tu học, một trường cao đẳng cho các tăng sĩ nghiên cứu Phật giáo (Shedra), một trường học thế tục cho các nhà sư trẻ, ban dịch kinh và nhà xuất bản, một toà nhà làm văn phòng và nhân viên và một số nhà dùng làm tăng xá. Đồng thời, ngôi chùa chính là gần hoàn thành. Đền thờ Mahakala cũng đang được hoàn thành và gần như hoàn toàn. Hai ký túc xá mới đã được hoàn thành cho các học sinh Shedra. Toàn thể ngôi chùa với màu sắc rực rỡ khung cảnh hùng vĩ với những ngọn núi Tuyết Sơn trùng trùng điệp điệp vây quanh đã cho chúng tôi một niềm tin một tinh thần phấn chấn.

              chụp tại cổ thành Patan

 Rời chùa Namo Buddha trở về thành phố ăn trưa xong chúng tôi được đưa đi thăm thành phố cổ Patan.

Patan (Sanskrit: पाटन Patan, Nepal Bhasa: यल Yala), là một trong những thành phố lớn của Nepal. Nằm ở phía tây nam của thung lũng Kathmandu. Được biết đến với di sản văn hóa phong phú, đặc biệt là truyền thống của nghệ thuật và hàng thủ công. Cũng là một thành phố lễ hội, nghệ thuật cổ đại, làm các kim loại và khắc tượng đá. Thành phố vào năm 2001  có dân số 162.991 với 68.922 căn hộ gia đình.

 

Lalitpur được cho là thành lập vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên của triều đại Kirat và sau đó mở rộng bởi vương quốc Licchavis trong thế kỷ thứ sáu. Và đã được mở rộng thêm bởi các vương quốc Mallas trong thời kỳ Trung Cổ. Lalitpur được thành lập bởi vua Veer Deva vào năm 299 AD nhưng, có sự nhất trí giữa các học giả rằng Patan được thành lập và phát triển thị xã từ thời cổ đại. Một số hồ sơ lịch sử bao gồm nhiều truyền thuyết khác cũng cho rằng thành phố Patan lâu đời nhất của tất cả các thành phố tại thung lũng Kathmandu. Theo một biên niên sử Kirat rất cũ, Patan được thành lập bởi vua Kirat trước khi các nhà cai trị xứ Licchavi lãnh đạo chính trị ở Thung lũng Kathmandu.

Thành phố đầu tiên được thiết kế theo hình dạng của Bánh Xe Chuyển Pháp Luân. Truyền thuyết kể rằng Hoàng đế Ashoka cùng với con gái của ông Charumati đến Kathmandu vào nămg 250 BC và dựng lên năm tòa bảo tháp Ashoka, bốn toà bảo thápở xung quanh và một ở giữa Patan.

Thành phố cổ Patan chụp từ trên cao

 Đền kỷ niệm quan trọng nhất Quảng Trường Patan đã được liệt kê vào tài sản của UNESCO là một trong bảy khu tượng đài tạo nên "Thung lũng Kathmandu Di sản thế giới." Các ống dẫn nước, vòi đá, Jaladroni (bể chứa nước), cách cửa nghệ thuật, đền thờ Hindu và Phật giáo Vihars tô điểm cho các thành phố. Di sản văn hóa như cung điện hoàng gia, với cửa ra vào và cửa sổ được chạm khắc phức tạp và sân trang trí đẹp với các biểu tượng tinh tế tăng cường vẻ đẹp của thành phố, nghệ thuật được tìm thấy trong đá, kim loại, đất nung ngà voi và các đối tượng khác. Tất cả những đồ tạo tác triển lãm nghệ thuật xuất sắc của các thợ thủ công và toàn bộ thành phố trông giống như một viện bảo tàng.

Trên con đường dẫn vào đài kỷ niệm hai bên đường những gian hàng cất theo kiểu cổ bán quà lưu niệm, phụ nữ Nepal trong trang phục Nepal cùng du khách đi tham quan rất đông cộng thêm giòng xe cộ chạy trên đường phố tạo nên một bức tranh cổ thật đẹp.


Trình bày: Minh Hạnh và Nguyễn Văn Hòa

Trở về Trang Ðề Án Tháng 05, 2010

Ðầu trang